Translate

Trang BVB1

Thứ Năm, ngày 30 tháng 6 năm 2016

Những điều cần biết về học thuyết âm dương ngũ hành

 * TRẦN THỊ HUYỀN 
Học thuyết âm dương ngũ hành không những được nhiều trường phái triết học tìm hiểu lý giải, khai thác mà còn được nhiều ngành khoa học khác quan tầm vận dụng. Có thể nói, ít có học thuyết triết học nào lại thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội như học thuyết này.
Việc sử dụng phạm trù âm dương ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống. Chính vì thế, sự tìm hiểu học thuyết âm dương ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông.
Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách "Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược... Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất".
Lão Tử (khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm âm dương. Ông nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng dương”, ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn, đó là âm dương.
Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch". Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt (--) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (-), (--) là hai phù hiệu cổ xưa nhất của người Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa bởi âm dương biến đổi cho nhau. Các học giả từ thời thượng cổ đã nhận thấy những quy luật vận động của tự nhiên bằng trực quan, cảm tính của mình và ký thác những nhận thức vào hai vạch (--) (-) và tạo nên sức sống cho hai vạch đó. Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không ngừng, do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ.
Theo lý thuyết trong "Kinh Dịch" thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ". Như vậy, tác giả của “Kinh Dịch" đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động. Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương. Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ. Vì thế, các nhà làm Dịch mới gọi tác phẩm của mình là "Kinh Dịch”. Ở "Kinh Dịch", âm dương được quan nệm là những mặt, những hiện tượng đối lập. Như trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đã bước đầu phát hiện được những mặt đối lập tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào cũng có một thái cực, thái cực là ầm dương). Nhìn chung, toàn bộ “Kinh dịch” đều lấy âm dương làm nền tảng cho học thuyết của mình.
Vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật liên quan tới sự sống con người được bàn nhiều nhất trong nội dung trao đổi y học, y thuật giữa Hoàng đế và Kỳ Bá qua tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Tác phẩm này lấy âm dương để xem xét nguồn gốc của các tật bệnh. "Âm dương, đó là cái đạo của trời đất, kỷ cương của vạn vật, cha mẹ của sự biến hóa, gốc ngọn của sự sinh sát, phủ tạng của thần minh, trị bệnh phải cần ở gốc, cho nên tích luỹ dương làm trời, tích lũy âm làm đất, âm tĩnh đương động, dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng, dương hóa khí, âm tàng hình".
Tác phẩm này còn bàn đến tính phổ biến của khái niệm âm dương. Theo tác phẩm thì trời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm. Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất. Mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu. Thông qua quy luật biến đổi âm dương trong tự nhiên mà cố thể suy diễn, phân tích luật âm dương trong cơ thể con người.
Từ những quan niệm trên về âm dương, người xưa đã khái quát thành quy luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này: Trước hết, âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng lại thống nhất với nhau, cùng tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên. Âm dương đối lập, mâu thuẫn nhau trên nhiều phương diện. Về tính chất: dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh. Về đường đi lối về: dương là thăng (đi lên), âm là giáng (đi xuống), "cái này đi ra thì cái kia đi vào, cái này dịch sang bên trái, thì cái kia dịch sang bên phải".
Âm dương còn đối lập nhau cả ở phương vị nữa. Theo "Nội kinh", khí dương lấy phía Nam làm phương vị, lấy phía Bắc làm nơi tàng thế. Khí âm lấy phía Bắc làm phương vị, lấy phía Nam làm nơi tiềm phục. Nếu suy rộng hơn nữa thì phàm những thuộc tính tương đổi như hoạt động với trầm tĩnh, sáng sủa với đen tối, đông - tây, trong xã hội : quân tử - tiểu nhân, hưng phấn với ức chế, vô hình với hữu hình... chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự không một cái gì không phải là quan hệ đối nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đã lập của âm dương. Do đó, âm dương tuy là bước đầu phát hiện được những mặt đối lập khái niệm trừu tượng nhưng nó có sẵn cơ sở tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật chất, nó có thể bao quát và phổ cập tất cả vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: các thuộc tính đối lập của mọi sự vật, âm "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào dương tuỳ đối lập, mâu thuẫn nhau, song cũng có một thái cực, thái cực là âm dương), không tách biệt nhau mà xâm nhập vào nhau, không phải là tuyệt đối mà là tương đối, không phải là đại biểu cố định cho một số sự vật nào đó mà là đại biểu cho sự chuyển biến, đối lập của tất cả các sự vật. Song âm dương không phải là hai mặt tách rời nhau và chỉ có đấu tranh với nhau mà còn thống nhất với nhau, nương tựa vào nhau để tồn tại, "âm là cái dương vẫn tìm, mềm là cái dương vẫn lấn".
Trong vũ trụ, cái gì cũng thế, "cô dương thì bất sinh, cô âm thì bất trường". Nếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh thành, biến hóa được. Nếu một mặt mất đi thì mặt kia cũng mất theo, "dương cô thì âm tuyệt", âm dương phải lấy nhau để làm tiền đề tồn tại cho mình. Ngay cả cái gọi là âm dương cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì trong dương bao giờ cũng có âm, trong âm bao giờ cũng có dương. Khi dương phát triển đến thái dương thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu dương rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu âm rồi. Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương, sở dĩ gọi là dương vì trong nó phần dương lấn phần âm. Âm dương bao giờ cũng nương tựa vào nhau. Sách Lão Tử viết: "phúc là chỗ núp của họa, họa là chỗ dựa của phúc”.
Bên cạnh quy luật âm dương đối lập, thống nhất còn có quy luật tiêu trưởng và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối của sự vật. Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm cho mặt khác suy kém và ngược lại. Từ đó làm cho hai mặt âm dương của sự vật biến động không ngừng. Sự thắng phục, tiêu trưởng của âm dương theo quy luật "vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản". Sự vận động của hai mặt âm dương đến mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương". Sự tác động lẫn nhau giữa âm đương luôn nảy sinh hiện tượng bên này kém, bên kia hơn, bên này tiến, bên kia lùi. Đó chính là quá trình vãn động, biến hóa và phát triển của sự vật, đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương.
Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với nhau gây nên mọi sự biến hóa của vũ trụ. Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giao cảm âm dương. Điều kiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung và "hòa" với nhau. Âm dương giao hòa cảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi sự vật, hiện tượng. Vì vậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển không ngừng của mọi sự vật khách quan.
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành thuyết âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bàn thể thế giới, bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành thuyết ngũ hành. Thuyết ngũ hành có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới của vũ trụ, nó cụ thể hóa và bổ sung cho thuyết âm dương thêm hoàn bị.
Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm "Kinh thư" ở chương "Hồng phạm" qua lời "Cổ Tử cáo với Vua Vũ nhà Chu". Trong Cửu trù "Hồng Phạm" thì ngũ hành về mặt tự nhiên được hình thành bằng những tên của năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và kèm theo tính chất của các loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể thiếu được đối với đời sống con người. Đứng về mặt thiên thời, "Hồng phạm" cho rằng có cái gọi là ngữ "kỷ" (một là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số). Về hiện tượng xã hội và hiện tượng tinh thần của con người, "Hồng phạm" đề xuất "ngũ sự" và "ngũ phúc". Ngũ sự như: một là tướng mạo, hai là lời nói, ba là trông, bốn là nghe, năm là suy nghĩ. Ngũ phúc như: một là thọ, hai là phúc, ba là thông minh, bốn là hiếu đức, năm là khảo trung mệnh. Qua đó nhận thấy "Hồng phạm" dùng ngũ hành để liên hệ hiện tượng tự nhiên với hiện tượng xã hội, nhằm thuyết minh thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có trật tự. Trong tư tưởng đó có chứa đựng nhân tố duy vật, khẳng định ngũ hành là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của năm loại vật chất: thủy, hỏa, kim, mộc, thổ. "Hồng phạm" đã ảnh hưởng rất lớn đến triết học của thời đại phong bến sau này. Các nhà duy vật và duy tâm từ những lập trường và giác độ khác nhau mà rút ra từ "Hồng phạm" những tư tưởng phù hợp với mình. Chính "Hồng phạm" và "Kinh dịch" đã tạo nên cái nền của vu trụ luận.
Trong thiên "Thập nhi kỉ" sách “Lã Thị Xuân Thu" phần nói về mối quan hệ giữa ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn. "Nguyệt lệnh" dùng thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tương sinh) lẫn nhau giữa chúng để thuyết minh cho sự biến hóa của thời tiết bốn mùa. Sự thuyết minh này tuy có tính chất khiên cưỡng nhưng là một quan điểm duy vật. Còn về mặt xã hội thì "Nguyệt lệnh" cũng giống như "Hồng phạm", ý đồ chính trị đã được nâng lên đến mức thể chế hành động của ông vua theo ngũ hành. Người ta lấy sự chặt chẽ của trật tự ngũ hành và quan hệ sinh khắc của nó để làm mực thước cai trị xã hội.
Trâu Diễn là một lãnh tụ quan trọng của các nhà ngũ hành thời Chiến quốc. Khi đưa thuyết ngũ hành vào lịch sử ông đã dùng trật tự của ngũ hành để gán ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một nếp khẳng định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra cuộc tranh luận về việc chọn tên "hành" cho triều đại nhà Hán (một triều đại mà học thuyết âm dương ngũ hành rất thịnh và được đem ứng dựng vào tất cả các công việc hàng ngày, vào mọi mặt của đời sống xã hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia đương thời hấp thụ và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội.
Học thuyết ngũ hành của Đổng Trọng Thư một nho si uyên bác đời Hán có nhiều điểm khác với tư tưởng của Cơ Tử vả Trâu Diễn. Đi sáu vào hình thái của quy luật ngũ hành, Đổng Trọng Thư cho rằng: trật tự của ngũ hành bất đầu từ mộc qua hỏa, thổ, kim thủy. Khi phân tích quy luật sinh khắc của ngũ hành, ông đã dựa hẳn vào sự diễn biến của khí hậu bốn mùa. Theo ông, sở dĩ có sự vận chuyển bốn mùa là do khí âm, dương biến đổi.
Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời lấy số 1 mà sinh thành thủ, đất lấy số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành.
Quan điểm ngũ hành và sự ứng dụng của nó đối với đời sống con người được bàn nhiều nhất trong tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Những lời bản trong bộ sách này đã khẳng định học thuyết ngũ hành có vai trò hết sức quan trọng đối với y học cổ truyền Trung Quốc.
Mối quan hệ giữa các hành trong ngũ hành được thực hiện qua các quy luật của ngũ hành.
Ngũ hành tương sinh: sinh có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ. Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát sinh và phát triển. Đó gọi là ngũ hành tương sinh. Quan hệ tương sinh của ngũ hành là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Ngoài quy luật tương sinh còn có quy luật tương khắc. "Khắc" có nghĩa là chế ước, ngăn trở, loại trừ. Thứ tự của ngũ hành tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hoả khắc kim, kim khắc mộc.
Trong ngũ hành tương sinh đồng thời cũng cổ ngũ hành tương khắc, trong tương khắc cũng ngụ có tương sinh. Đó là quy luật chung về sự vận động, biến hóa của giới tự nhiên. Nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng, có tương khắc mà không có tương sinh thì vạn vạt không thể có sự sinh hóa. Vi vậy, tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiểu được để duy trì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi sự vật.
Quy luật tương sinh tương khắc là chỉ vào quan hệ của ngũ hành dưới trạng thái bình thường. Còn nếu giữa ngữ hành với nhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cân đối mà xảy ra trạng thái trái thường thì gọi là "tương thừa", "tương vũ".
Hai học thuyết âm dương ngũ hành được hết hợp làm một từ rất sớm. Nhân vật nổi tiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết trên là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận âm dương ngũ hành "tương khắc, tương sinh" để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Trâu Diễn là người đầu tiên vận dụng thuyết âm dương ngũ hành vào giải thích các hiện tượng xã hội nói chung.
Cuối thời Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa thuyết âm dương và thuyết ngũ hành.
Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp âm dương ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người. Theo ông, giữa con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí. Khi giải đáp về khởi nguồn, kết cấu của vũ trụ, ông đã sáng tạo ra một vị thần có nhân cách đứng trên cả vũ trụ, có ý thức và đạo đức đó là trời. Theo ông, trong vũ trụ con người là sự sáng tạo đặc biệt của trò vượt lên vạn vật, tương hợp với trời, trời có bốn mùa, con người có tứ chi. Từ thuyết "thiên nhân hợp nhất", ông đã dẫn dắt ra mệnh đề "thiên nhân cảm ứng", cho rằng thiên tai là do trời cảnh cáo loài người. Ông còn lợi dụng quan điểm định mệnh trong học thuyết âm dương ngũ hành để nói rằng "dương thiên, âm ác". Tuy Đổng Trọng Thư đưa ra phạm trù "khí", "âm dương", "ngũ hành" để giải thích quy luật biến hóa của thế giới, song ông lại cho rằng những thử khí ấy bi ý chí của thượng đế chi phối. Triết học của ông có màu sắc mục đích luận rõ nét. Bên cạnh đó ông còn nói trời không đổi, đạo cũng không đổi để phủ nhận sự phát triển và biến hóa của thế giới khách quan.
Hướng thứ hai: Tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học âm dương ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học. Tác phẩm này đã dùng học thuyết trên để giải thích mối quan hệ giữa con người với trời đất: coi con người và hoàn cảnh là một khối thống nhất, con người chẳng qua là cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại, con người không thể tách rời giới tụ nhiên mà sinh sống được, con người với giới tự nhiên là tương ứng. Tự nhiên có âm dương ngũ hành thì con người có "thủy hỏa" ngũ tạng. Nội kinh viết: "âm dương là quy luật của trời đất tuy không thấy được nhưng chúng ta có thể hiểu được nó thông qua sự biểu hiện của thủy hỏa khí huyết, trong đó hỏa khí thuộc dương, thủy huyết thuộc âm". Tác phẩm này còn dùng các quy luật âm dương ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa các phú tạng trong cơ thể. Tác phẩm đã vãn dụng sự kết hợp giữa học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hãnh để giải thích các hiện tượng tự nhiên cũng như các biểu hiện trong cơ thể con người và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Đây là một quan điểm hoàn chỉnh và là một điển hình của phép biện chứng thô sơ.
Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết hợp học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý.
Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận dụng kết hợp cả hai học thuyết âm dương và ngũ hành. Vì học thuyết âm dương mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể con người, còn học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể con người và giữa con người với tự nhiên. Có thể khẳng định, trên cơ bản, âm dương ngũ hành là một khâu hoàn chỉnh, giữa âm dương và ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời.
Âm dương ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sụ sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học thuyết âm dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương ngũ hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời quy định Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang dấu ấn của tính trực giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể.
TTH /(Tạp chí Triết học)
-------------

20 nhận xét:

  1. Chủ nghĩa Mác -lê nin vô địch vẫn là "muôn năm" Trong đầu những người thế hệ chúng tôi (50 đến 90) chỉ có đấu tranh giai cấp không ngừng nghỉ! "Giết! giết nữa bàn tay không ngơi nghỉ, Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong" (Tố Hữu). Nay thì phải khủng bố bọn phản đông cho chúng không còn đất sống, triệt làm sao cho được nguồn sống của chúng để bảo vệ đảng quang vinh!

    Trả lờiXóa
  2. [Về đường đi lối về: dương là thăng (đi lên), âm là giáng (đi xuống)]
    -Viết thế này thì BẺ BÚT đi!
    -Dương đã ở trên sao còn THĂNG, Âm đã ở dưới sao còn DÁNG?
    -Hình Thái cực cũng sai nốt, vì chưa 2 lần được nhìn thấy (kể cả Lão Tử).

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Xin sửa: DÁNG = GIÁNG; 2 thành 1

      Xóa
  3. Tác giả đề cập đến một VẤN ĐỀ QUÁ LỚN, nhưng lại gói trong một BÀI VIẾT QUÁ NGẮN và NHẮC ĐẾN QUÁ NHIỀU NGƯỜI TỒN TẠI VÀO NHỮNG THỜI ĐẠI LỊCH SỬ QUÁ KHÁC NHAU
    Cho nên không tránh khỏi TẢN MẠN và HỜI HỢT.
    Tuy vậy, chỉ nhìn vào cái hình minh họa thôi, người ta đã thấy phảng phất một triết lý nào đó đã được đánh dấu trong TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ CỦA VIỆT NAM ĐÃ XUẤT HIỆN TRÊN 4000 NĂM
    Ấy thế mà bài viết lại chỉ nhắc tới LÃO TỬ, XUÂN THU CHIẾN QUỐC, PHỤC HY..... và nhiều NGƯỜI TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI, TRUNG ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI là nghĩa làm sao?
    Không có một BẢN HÁN VĂN nào có thể qua mặt được các HÌNH KHẮC TRÊN TRỐNG ĐỒNG CỔ CỦA VIỆT NAM.
    Bởi vậy bài viết xem ra RẤT ÍT SỨC THUYẾT PHỤC NGƯỜI ĐỌC.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Nhân việc DLT nhắc đến TRỐNG ĐỒNG CỔ CỦA VN, xin nhắc các độc giả hãy tìm đọc nhiều bài viết nói về NGÔN NGỮ TRIẾT HỌC THỂ HIỆN TRÊN CÁC HÌNH VẼ RẤT HIỆN ĐẠI TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.
      Đó là thứ ngôn ngữ độc đáo đi từ ÂM DƯƠNG - Lững nghi, Tứ tượng, đến Bát quái.... mà Người Trung hoa bảo rằng của họ. Do họ sáng lập ra.
      Thực chất là họ ăn cắp và dùng Hán Văn giải thích.
      Chữ Việt cổ đã bị chữ Hán chèn ép làm cho mai một, ( mãi sau này mới xuất hiện chữ Nôm ) Nhưng hình khắc họa trên Trống đồng thì không ai chèn ép được.

      Xóa
  4. không phản đối sự hiện hữu của âm và dương nhưng
    quá tin vào học thuyết âm dương thì ...không khá nổi ...
    Tàu cộng cái gì cũng âm dương ngũ hành, sao không phong thuỷ -âm dương - ngũ hành để đứng đầu thế giới đi ...mà cứ bám mãi phía sau
    mỹ và châu âu có cần tới âm dương ngũ hành đâu mà vẫn dẫn đầu thế giới về mọi mặt ...

    Trả lờiXóa
  5. theo tôi được biết vòng tròn bát quái được sắp xếp như sau: càn, khảm, cấn, chấn, tốn , ly, khôn, đoài. Sao hình vẽ trên lại đảo 2 quái là "khôn" và "tốn"? Căn cứ vào đâu? Xin cho biết để học hỏi.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Có tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái. Ngoài ra còn có những "biến thiên" theo quẻ dịch, dựa trên Chu dịch. Chúc bạn vui và nghiên cứu thêm.

      Xóa
    2. Thực ra tác giả bài này chẳng hiểu gì về cái thứ này cả. Chỉ là cóp nhặt ý kiến của những người khác trong các bản văn chuyên luận, nhất là các tác giả hiện đại Trung Quốc. 99% là không thực sự nghiên cứu chính văn của Kinh Dịch, Nội Kinh, hoặc sách của các tác giả được nêu tên. Về bản thể luận, Âm Dương không phải là Bản Thể, tác giả nhầm lẫn, hoặc theo sự nhầm lẫn của người khác, nêu ý kiến "Như vậy, tác giả của “Kinh Dịch" đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động." Tác giả hãy chỉ ra "khí âm" ở quẻ Thuần Càn, sau đó hãy nói về việc lúc nào cũng có âm dương. Cái hình Bát Quái ấy là của mấy người thích sắp xếp theo các tình huống. Đây là dùng vị trí của Càn Khảm Cấn Chấn trong Hậu Thiên làm căn cứ, các quẻ khác sắp xếp theo theo nguyên tắc đối xứng âm dương qua tâm. Chẳng có nghĩa lý và ích sự gì. Cấn mà lại nằm ở Dần mới là chuyện ngớ ngẩn.

      Xóa
  6. Cứ làm theo Thuyết Vị Tha (Sống giúp người), chẳng sợ cái gì.

    Trả lờiXóa
  7. Đúng như tác giả nói, đây là một vấn đề rất lớn mà ước gì các thế hệ trẻ ngày nay được học, được tiếp cận, trải nghiện dần dần. Phải làm sao có nhiều bài nghiên cứu về những vấn đề "muôn năm cũ" này để giúp giởi trẻ thoát ra khỏi thứ triết học Mác Leenin đang tầm thường hóa, thô tục hóa biết bao thế hệ người, trói buộc tư duy con người trong xã hội để họ trở thành công cụ, thành nô lệ cho thứ chủ nghĩa hoang đường gọi là CNXH. Nhưng làm sao để không "triết học hóa" những thứ rất sinh động thành thứ trìu tượng vô nghĩa lý và gây phản cảm đối với giới trẻ. Vì lẽ đó mà tôi rất hoan nghênh Đại tá Bùi Văn Bông đã đưa món ăm mới lạ vào mạch sống của chúng ta lâu nay. Khó nhưng rất đúng. Không chỉ có âm dương ngũ hành mà, triết học mà các lĩnh vực như sử học, nhân chủng học, dân tộc học đang rất cần được làm sáng tỏ và truyền cảm đến các thế hệ ngày nay. Cũng nhân đây, xin góp vài lời với tác giả về những vấn đề "ngoài Triết học". Tác giả coi tất cả những thứ này, kể từ Kinh Dịch, Ngũ hành luận, Hoàng đế nội kinh... là sản phẩm tư duy của người Trung Quốc cổ đại là không đúng, đơn giản là thời cổ đại ấy chưa có khái niệm Trung Quốc nào cả. Còn người Hán không hề biết gì về những thứ triết học ấy vì họ còn bận bịu kiếm sống bằng nghề chăn cừu và ngựa trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tất cả những phát minh quan trọng, kể từ chữ vuông cho đến âm dương ngũ hành, kinh dịch, Y học... đều là của người Bách Việt. Bây giờ chúng ta gọi chữ vuông ấy là "chữ Hán" là gọi theo sự mạo nhận của bọn Hán Nho, Tống Nho mà thôi. Nó là của chính tổ tiên chúng ta đấy.
    Thật ra Kinh Dịch không có Thái cực mà cổ nhân quan niệm vũ trụ là không có đâu là bắt đầu, không đâu là cuối cùng. Quan niệm Thái cục sinh ra lưỡng nghi là do Khổng tử phịa ra thế, còn cái gì sinh ra lưỡng nghi (âm dương) cho đến ngày nay, chính chúng ta cũng không thể biết được, còn cổ nhân thì "Tri giả bất ngôn", biết nhưng không có cách gì diễn đạt ra bằng ngôn từ được. Không biết thì làm sao họ đưa ra rất nhiều, thậm chí gọi là một hệ thống nhận thức về vũ trụ hoàn chỉnh đến vậy, rất chính xác, rất đúng mà ngày nay, các nhà khoa học vẫn không biết vì sao họ biết và họ đúng. Bất lực về ngôn từ, cái mà cổ nhân trên 2000 năm trước gặp phải cũng là cái mà nhóm các nhà Vật lý lượng tử ngày nay đang chứng nghiệm. Một thế giới Vật lý không có ngôn từ nào trình bày ra được nên họ nói nào lưới, nào võng, nào ống giày... tức tất cả ngôn từ ấy đều là từ "cưỡng dụng" như Lão tử nói. Ngay Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ không bao giờ là vật chất cụ thể mà chỉ là những khái niệm mượn để chỉ những cái họ "tri kiến trực tiếp" được mà không có từ ngữ gì để chỉ cho chính xác. Đó là một thứ "thơ không cần ngôn ngữ", một thứ "triết học không cần phạm trù khái niệm" như chúng ta quen dùng. Âm dương cũng không bao giờ là "hai mặt đối lập" bởi vì vũ trụ chỉ có một, không hề có nhị phân trong quan niệm của người xưa v.v..

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Bác CU ĐƠ chí lý.

      Thực ra nếu đem so với triết học hiện đại ,Sự đúng đắn của Kinh Dịch chính là người xưa đã nghĩ đến sự vận động của vạn vật theo từng cặp , từng cặp phạm trù để hướng tới trạng thái cân bằng (trong một cặp phạm trù vi mô có những cặp phạm trù vĩ mô).

      Sự đeo đuổi tới trạng thái cân bằng (mà các cụ xưa gọi là cân bằng Âm -Dương)là không ngừng không nghỉ và nó chính là động lực phát triển của vạn vật trong vũ trụ ,kể cả xã hội loài người....

      Xóa
  8. Tin hay không tin điều gì là tuỳ từng người, không ai ép buộc được. Nhưng muốn thuyết phục người khác tin theo niềm tin của mình thì cũng phải viết, phải nói cho có vẻ hợp lý, hợp tình. Tác giả bài viết này , nếu không phải là loại thần kinh bất bình thường thì cũng là hoang tưởng hoặc (xin lỗi) là ếch ngồi đáy giếng, khoe mẽ mà thôi. Bài viết chẳng ra ngô ra khoai gì cả, thật phí công đọc và tốn không gian trí thức.

    Trả lờiXóa
  9. Bố:
    - Nhờ có Newton phát hiện ra Định luật Vạn vật hấp dẫn, mà con người biết chúng ta vì sao đứng vững được trên quả đất.
    Con:
    - Vậy bố ơi, trước khi có ông Niu, con người đứng trên quả đất bằng cách nào?

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cái chử quan trọng nhất trong câu nói của ông bố là chử "BIẾT", trong câu nói của thằng con ông lại cắt mất đi. Ông nặc danh ơi, cái đầu của ông có vấn đề!

      Xóa
  10. Công nhận học thuyết Âm dương , ngũ hành bao quát và huyền diệu thật .Tuy mơ hồ nhưng có nhiều điều rất thú vị .

    Ngày nay , tuy người bạn chí cốt của CSVN không còn xem lịch để chọn ngày tốt phóng hoả tiển không gian nhưng học thuyết này cũng còn có chổ đứng .
    Ví dụ có điều lạ là khi đàn ông chết trôi , thi thể luôn luôn nằm sấp , còn thi thể đàn bà thì lại luôn nằm ngữa , thật đúng với âm dương .
    Ông Huỳnh văn Lang , 1 viên chức cao cấp của chính phủ VNCH lúc trước , có viết lại 1 quyễn sách kể chuyện về cuộc đời thích đá gà của ông , ổng khoe chưa bao giờ ổng cá độ mà bị thua . ấy là nhờ ổng xem con gà của 2 bên thuộc về hành nào . Ví dụ gà thuộc Kim thì chắc chắn đá ăn gà thuộc Mộc , dù bề ngoài gà “ Kim “ này có vẽ kém cõi hơn .
    Về châm cứu , BS Trương Thìn ở TP HCM lúc trước cũng có nhiều kết quả thú vị trị bệnh châm cứu suy luận theo Ngũ hành , thật là kỳ lạ vì học thuyết Đông Phương trái ngược hẳn với Tây Phương .
    Thật sự đối với tuổi già , bảo tồn sức khoẽ theo học thuyết Đông Phương hay hơn Tây y nhiều . Như BS Nguyễn văn Hưởng , học Tây Y nữa đời , nhưng về già thì cổ võ cho Đông Y và rất tâm đắc .
    Có lẽ bác Bồng cũng giử gìn sức khoẽ theo học thuyết Đông phương , Tây y chỉ hay về ngoại khoa , còn Nội khoa , Lão khoa dở khẹt .

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Bác dựa vào bằng chứng nào mà "phán" như vậy ? Nói chung,
      Tây Y hiệu qủa hơn nhiều đối với tất cả bệnh nhiễm trùng,
      u bướu nội tạng cần phải cắt bỏ v.v.và y khoa phòng ngừa
      (tiêm chủng),trừ ra bệnh thần kinh thì kết qủa điều trị
      có phần hạn chế.
      Bs.TT.ăn theo Ngũ Hành để chẩn bệnh nhưng sự thật chưa có
      công trình nào chứng minh điều trị như thế có hiệu qủa ra
      sao và đạt được bao nhiêu % kết qủa !

      Xóa
  11. Đã dùng Hán Việt thì dùng luôn theo mạch văn cho dễ hiểu,đàng này
    tác giả chen vào 1/2 Thuần Việt,1/2 Hán Việt nghe rất là không ổn.
    Thai cực sinh lưỡng nghi,lưỡng nghi sinh tứ tượng,tứ tượng sinh bát
    quái.Nếu tác giả muốn giải thích cho dễ hiều thì để trong ngơặc đơn.
    Phải chăng tác giả này sẽ là giảng viên học viện Khổng Tử của giặc Tàu cộng,nên gửi bài trên để "thăm dò dư luận" ?

    Trả lờiXóa
  12. Loại bài cóp nhặt lởm khởm chứ hiểu biết gì đâu.

    Trả lờiXóa
  13. Đã biết internet tuyệt vời như vậy mà sao chưa hết u mê với mấy tư tưởng của thằng tầu. Đã đành thuyết âm dương có đúng nhưng sao không chịu mở mắt nhìn ra hơn nửa thế giới đang sống và sáng tạo ntn? Chắc họ chỉ suốt ngày ngồi tụng thuyết  D mà có được như bây giờ. Thôi hãy tỉnh ngủ đi những nhà thông thái chùm chăn.

    Trả lờiXóa