Translate

Trang BVB1

Thứ Năm, ngày 17 tháng 12 năm 2015

Giải mã chiến lược quân sự của Tập Cận Bình

Trung Quốc diễn tập bắn đạn thật trên Biển Đông
Quan điểm về chiến tranh thông tin của Trung Quốc đứng từ góc nhìn của quốc gia yếu thế hơn, chứ không phải là quốc gia áp đảo hơn về công nghệ. Điều này dẫn tới sự nguy hiểm.
Tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa loan báo đề cương cải cách quân đội. Theo đó, nước này sẽ cấp tập đột phá trong công cuộc xây dựng quân đội (PLA), hoàn thành trước năm 2020.
Bài viết của tác giả Nguyễn Thế Phương là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM sẽ giúp độc giả thấy được phần nào chiến lược của ông Tập Cận Bình.
Chiến tranh thông tin “mang đặc sắc Trung Quốc”
Từ đầu những năm 2000, các sĩ quan và quan chức cấp cao Trung Quốc đã thúc đẩy khái niệm “cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự” (RMA) như là một định hướng xây dựng và hiện đại hoá quân đội Trung Quốc (PLA). Mặc dù chưa bao giờ được định nghĩa rõ ràng, các tính chất của “RMA mang đặc sắc Trung Quốc” được thể hiện thông qua Sách trắng quốc phòng các năm.


Sách trắng quốc phòng Trung Quốc năm 2013 có đề cập tới hai điểm quan trọng giúp định hướng quá trình hiện đại hoá PLA. Thứ nhất là sự trỗi dậy của các mối đe doạ an ninh hàng hải hướng biển; và thứ hai là sự nổi lên của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông (một trong những thành tố quan trọng nhất của RMA). Từ hai điểm này, Trung Quốc đưa ra khái niệm “chiến thắng một cuộc chiến tranh thông tin hoá ở mức độ khu vực”.
Các tranh luận nội bộ PLA về RMA và vai trò của công nghệ thông tin nổi lên mạnh mẽ từ sau chiến dịch “Bão táp sa mạc” tại Iraq, trong đó Mỹ đã tận dụng rất hiệu quả vai trò của tác chiến điện tử.
Chiến trường thông tin hoá như đã được đề cập đã làm lu mờ các khái niệm cũ. Ví dụ, trong chiến tranh thông tin, không có “hậu phương” hay “tiền tuyến”, mà là không gian chiến trường “đa chiều”, tổng hoà của điều kiện tác chiến trên không, trên bộ, trên biển, trong không gian, và tác chiến điện tử trở thành bộ phần không thể thiếu.
Sự thành bại trên chiến trường không chỉ phụ thuộc vào bên nào sở hữu hoả lực mạnh hơn, mà là bên nào phát hiện được đối phương trước, phản ứng nhanh hơn và tấn công chính xác hơn. Hai bên sẽ cạnh tranh nhau về khả năng tình báo cũng như khả năng chỉ huy và kiểm soát.
Cần lưu ý rằng, không giống như Mỹ, quan điểm về chiến tranh thông tin của Trung Quốc đứng từ góc nhìn của quốc gia yếu thế hơn, chứ không phải là quốc gia áp đảo hơn về công nghệ. Điều này dẫn tới sự nguy hiểm của chiến tranh thông tin cấp độ khu vực của Trung Quốc. Lúc này, nó được sử dụng như một đòn tấn công phủ đầu nhắm vào tất cả các căn cứ của đối thủ tại một khu vực tác chiến cụ thể.
Chiến tranh mạng trên Biển Đông
PLA xây dựng học thuyết chiến tranh mạng dựa trên khái niệm có tên gọi là “mạng tác chiến điện tử hỗn hợp” (INEW). Đây là sự kết hợp giữa ba yếu tố bao gồm mạng lưới máy tính (CNOs); tác chiến điện tử (EW) và tấn công quy ước nhằm vô hiệu hoá hệ thống mạng lưới thông tin của đối phương, và tạo ra “điểm mù” trong khả năng chỉ huy kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, trinh sát và giám sát (gọi tắt là C4ISR) của đối thủ. Hoạt động này được tiến hành trên mọi mặt trận, mà quan trọng hơn cả là mặt trận trên môi trường mạng máy tính.
Một cuộc tấn công mạng nhắm vào lực lượng đối phương sẽ được tiến hành trong khoảng thời gian đầu của cuộc chiến. Đánh phủ đầu sẽ khiến cho các loại vũ khí công nghệ cao, cũng như mạng lưới C4ISR của đối thủ bị đứt quãng hay thậm chí là bị phá huỷ. Đạt được sự thống trị về mặt thông tin sẽ giúp cho PLA triển khai nhanh chóng và chiếm chế thượng phong về không quân và hải quân.
Các đơn vị chiến tranh mạng còn thực hiện các nhiệm vụ do thám và thu thập thông tin trong thời bình, với mục đích đa dạng.
Tại Biển Đông, các tranh luận về chiến tranh mạng dường như chưa được chú ý bằng sự phát triển của không quân và hải quân Trung Quốc. Trong trường hợp thực sự có xung đột xảy ra, việc Trung Quốc áp đảo trên môi trường không gian mạng là việc có thể lường trước được.
Cơ sở hạ tầng an ninh mạng của các nước ASEAN vẫn còn yếu và thiếu. Các quốc gia Đông Nam Á có liên quan tới tranh chấp Biển Đông, cũng như các công ty tư nhân đang hoạt động ở khu vực đều là nạn nhân của các cuộc tấn công mạng từ Trung Quốc. Các đơn vị tác chiến mạng của Trung Quốc đã xâm nhập thành công hệ thống mạng khu vực, chủ yếu nhắm vào các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hay Philippines thông qua hình thức từ chối dịch vụ (DoS).
Thực tiễn kiểm nghiệm rằng, vũ khí càng hiện đại thì càng dễ bị phong toả. Vai trò của thông tin và tác chiến mạng là quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và các nước khác đang tiến hành hiện đại hoá không - hải quân.
(VnN)
-------------

2 nhận xét:

  1. TC võ mồm! Nó luôn né tránh chiến tranh với các nước mạnh. Nếu thực sự nổ ra chiến tranh, chúng ta sẽ chứng kiến quân đội TC "chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!"

    Trả lờiXóa
  2. chỉ được cái lạc quan tếu , khi trung quốc đánh chiếm đảo GẠC MA tướng quân đội LÊ ĐỨC ANH thay mặt bộ chính trị ra lệnh đầu hàng , nghiêm cấm không được nổ súng , đánh chiếm điểm cao ở HÀ GIANG mất hơn 4000 lính mà vẫn không dành lại được . thế mà bây giờ nặc danh 18 \ 12 \2015 lại bốc phét

    Trả lờiXóa