* TÔ VĂN TRƯỜNG
BVB - Tôi đã tự nhủ trong suốt
thời gian qua, mình đã viết hơn chục bài về dự án bauxite Tây
Nguyên là quá đủ rồi nhưng nay được nghe ông Trần Xuân Hòa Chủ tịch HĐTV Tập
đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện dự
án nhà máy Alumin Nhân Cơ và chỉ trong vòng 2 tháng nữa sẽ thấy tương lai của
bauxite, đành phải gác tất cả công việc lại để viết bài “Lời cuối cho bauxite
Tây Nguyên”!
Kiểm nghiệm các tuyên bố có cánh của lãnh đạo
TKV
Tuyên bố của ông Trần Xuân Hòa không có gì lạ,
nó chỉ là sự tiếp nối hùng hồn khẳng định trước đây của các vị tiền nhiệm ở TKV
và người trong cuộc. Chính vì các tuyên bố này mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước
càng tin tưởng để cho làm dự án thí điểm bất chấp lời khuyên can của đại tướng
Võ Nguyên Giáp và hàng ngàn ý kiến phản biện của người dân và các nhà khoa học.
Ông Đoàn Văn Kiển- Bí thư đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị TKV (Ủy viên dự
khuyết BCHTU khóa IX) đã báo cáo bằng văn bản tại hội nghị của Ban tuyên huấn
TW ngày 25/12/2008 tại Thành phố HCM, nguyên văn như sau (về hiệu quả của dự án
bô xít):
"Mặt khác, ý nghĩa
đóng góp phát triển kinh tế xã hội địa phương vùng Tây Nguyên và Nam Trung bộ
là rất lớn vì với tổng doanh thu do xuất khẩu Alumina từ 2 nhà máy Nhân Cơ và
Tân Rai trừ năm 2011 ước đạt 300 triệu USD/năm và tham gia đóng góp ngân sách
địa phương (các khoản thuế) là khoảng 10-15% doanh thu để phát triển kinh tế xã
hội, thì thực sự Tập đoàn đã góp phần phát triển Tây Nguyên giầu mạnh".
Ông Đặng Đức Yến- Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông trong bài báo "Giải pháp
cho bô xít Tây Nguyên" của tác giả Phan Anh đăng
mục Kinh tế-Xã hội đã khẳng định: "Nếu dự án alumina
này vào, tính từ các khoản thuế, phí bảo vệ môi trường... sẽ đóng góp cho tỉnh
khoảng 1600 tỷ đồng và đến năm 2011 thì có thể đạt hơn 2000 tỷ đồng"
Trong
thực tế, TKV lẫn lộn, không phân biệt nổi hiệu
quả kinh tế-tài chính (là của doanh nghiệp), hiệu quả kinh
tế-xã hội (của xã hội). Các nước gần đây còn chú trọng đến hiệu
quả kinh tế-môi trường là những khái niệm không thể lập lờ.
Đến hôm nay, TKV công khai "lờ" đi cái khoản thu to nhất của
ngân sách là thuế xuất khẩu!?
Lập
luận của ông Trần Xuân Hòa về thuế xuất khẩu không chuẩn, cần phải chỉnh. TS
Nguyễn Thành Sơn đã chỉ ra rất chính xác về thuế xuất
khẩu của Quốc hội ban hành từ năm 2008 (trước
khi TKV làm alumina), nên chỉ có danh điểm "quặng nhôm" (chứa Al2O3).
TKV cũng hiểu alumina (cũng đều chứa Al2O3) cũng là "quặng nhôm", như
vậy là chính xác về mặt khoa học. Chính vì vậy, trước đây, như báo chí đã đưa
tin Phó TGĐ của TKV là ông Nguyễn Văn Biên khẳng định phải xin giảm thuế xuất
khẩu alumina từ 20% xuống 5% hoặc =0% thì có lãi. Gần đây, tại cuộc họp báo,
người phát ngôn của TKV cũng khẳng định với các nhà báo là trước mắt doanh
nghiệp khó khăn nên nhà nước hỗ trợ bằng cách cho thuế xuất khẩu = 0%, sau này
kinh tế hồi phục TKV sẽ nộp bình thường. Như vậy, bản thân TKV cũng thấy mặt
hàng "alumina" được hiểu là "quặng nhôm" không thể không
đóng thuế xuất khẩu như ngụy biện của ông Hòa.
Nhân
việc TKV cứ "quanh co" và "mập mờ", để đảm bảo lợi ích của
người đóng thuế, cần có kiến nghị rõ với Quốc hội bổ sung vào biểu thuế xuất
khẩu danh điểm "Alumina" và xác định cụ thể thuế xuất cho alumina còn
đang thiếu. Còn mức thuế suất là bao nhiêu % là do Quốc hội qui định chứ không
thể áp thuế suất của nước ngoài (Brazin, hay Ấn Độ) cho Việt Nam . Về cái gọi
là "chế biến sâu" của TKV: Alumina có hàm lượng Al2O3 cao thì gọi là
được chế biến sâu cũng đúng, nhưng, alumina của Tân Rai và Nhân Cơ có đặc điểm
là do công nghệ lạc hậu, giải pháp công nghệ ấu trĩ, đòi hỏi tiêu hao nhiều
than (0,679 tấn than cho 1 tấn alumina). Không ai khuyến khích "chế biến
sâu" để xuất khẩu như kiểu của TKV cả. Vì, đối với alumina của TKV, xuất
khẩu alumina cũng là xuất khẩu than (cái mà chúng ta còn đang thiếu).
Không thể chịu trách nhiệm chính trị trên tiền
thuế của dân
Ông
Trần Xuân Hòa cho rằng dự án bauxite không việc gì phải xin ý kiến của Quốc hội
vì đó là thẩm quyền của Chính phủ. Người dân thưa hiểu đó là chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước thì việc chia nhỏ dự án, mang danh thí điểm, “lách luật” cũng
không có gì lạ! Đừng quên rằng dù chất lượng đại biểu Quốc hội còn hạn chế vì
“Đảng cử-Dân bầu” nhưng không ít người có lòng tự trọng, biết lắng nghe ý kiến
của Dân, điển hình như Quốc hội khóa trước đã từng bỏ phiếu bác bỏ dự án đường
sắt cao tốc Bắc-Nam.
Muốn sòng phẳng, công khai minh bạch thì TKV phải tìm
nguồn vốn bổ xung cho nguồn vốn tự có. Về cơ bản có hai cách bổ xung đi vay và
huy động vốn góp, trong đó có góp vồn theo phương thức góp vốn cổ phần, gắn với
hình thành và phát triển thị trường sơ cấp trên thị trường chứng khoán. Cần
phải tính toán hiệu quả của phương án sử dụng vốn đầu tư. Trong lĩnh vực này,
luôn phải có tối thiểu hai phương án thực hiện mục tiêu để lựa chọn phương án
có hiệu quả nhất. Việc đưa ra hai phương án kết nối Tân Rai-Nhân Cơ với cảng
biển bằng đường bộ hay đường sắt là sự thể hiện vấn đề này. Do đó, để làm cho
ngân sách nhà nước, cũng như vốn đầu tư của các chủ đầu tư thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau có thể là nằm ở việc lập một hay nhiều phương án đầu tư để
thực hiện mục tiêu đề ra? Thủ trưởng, người có quyền quyết định chủ trương đầu
tư là người đòi hỏi bộ máy giúp việc phải lập và tính toán chính xác phương án
đầu tư và hiệu quả của vốn đầu tư, trình Thủ trưởng phê duyệt hay loại xẩy ra
tình trạng Thủ trưởng là người quyết định chủ trương đầu tư một cách chủ quan,
duy ý chí, ... để rồi bắt buộc bộ máy giúp việc phải lập phương án đầu tư để
thực hiện chủ trương của Thủ trưởng chứ không phải là để đạt hiệu quả kinh tế
cao.
Thông thường để ngân sách được sạch sẽ thì phải có phương
án gây vốn. Vốn phải dựa vào bán trái phiếu doanh nghiệp (enterprise
bonds) cho dân chúng, thông qua 1 công ty đánh giá tài chính. Muốn bán được thì
phải có đánh giá khả năng hoàn vốn và trả lãi+ vốn. Người mua như thế thấy rõ
được rủi ro của loại bonds này mà quyết định mua hay không mua. Nguyên tắc là
nếu doanh nghiệp quốc doanh trên lỗ thì người mua bonds có thể mất vốn. Theo
cách làm trên, nếu thị trường đánh giá là đầu tư trên không thể có lời thì tất
nhiên không bán được trái phiếu, và do đó không thể xây dựng doanh nghiệp. Cách
làm này là cách làm của các doanh nghiệp gọi là phi lợi nhuận (hay tự quản) ở
Mỹ và nhiều nước. Doanh nghiệp có thể làm lời nhưng lời phải tái đầu tư chứ
không thể đem chia cho cổ phần vì không có cổ phần viên. Chỉ có cách làm này
mới tránh được cái gọi là doanh nghiệp quốc doanh mà ngân sách phải chịu trách
nhiệm bù lỗ.
Ở Mỹ và các nước tiên tiến, người ta rất xa lạ với vốn cổ
phần công ty nhà nước, nói chung là xa lạ với công ty quốc doanh. Công ty tự
quản phi lợi nhuận, dịch từ chữ (non-profit organization). Nếu là tư nhân thì
thường với mục đích từ thiện hay văn hóa, như lập nhà thương, bảo tàng. Nếu là
nhà nước thì với mục đích phục vụ xã hội và nền kinh tế nói chung. Ở Mỹ không
có ý niệm công ty quốc doanh, mà chỉ có công ty phi lợi nhuận nhà nước tự quản.
Thí dụ như Tennesse Valley Authority nhằm cung cấp điện cho khu vực Tennesse,
New York and New Jersey Port Authority nhằm quản lý các phi trường và hải cảng
và chuyên chở trong khu vực nằm giữa hai bang NY-NJ. Đây là công ty nhà nước
địa phương nhưng tự quản. Trong các công ty tự quản, hội đồng quản trị do nhà
nước hai bang chỉ định theo nhiệm kỳ, nhưng giám đốc điều hành do hội đồng quản
trị thuê. Lợi nhuận công ty tự quản tùy mục đích có thể được miễn thuế. Công cụ
để gây vốn là bán trái phiếu dài hạn (bonds) ít nhất là 10 năm trở lên. Các
công ty tự quản nhà nước dựa vào vốn bán trái phiếu, mà không dựa vào thuế hay
vốn vay ngân hàng. Lý do không dựa vào vốn vay ngân hàng vì hai lý do: bấp bênh
lãi suất và qua hình thức trái phiếu, Chính phủ có thể miễn thuế đối với lãi
trái phiếu do đó khuyến khích dân chúng mua. Việc gây vốn qua trái phiếu
cũng chính là cách làm cho dân chúng gắn bó với các đầu tư trên vì chính họ bị
ảnh hưởng nếu như doanh nghiệp thua lỗ mất khả năng trả lãi/vốn trái phiếu.
Phản biện cho TKV khó như giảng toán lớp 10 cho
học sinh lớp 3
Có chuyên gia nhận xét quan trọng đối với Tây
Nguyên (trong đó có bauxite) là hạ tầng phải đi trước một bước như Bộ Chính trị
đã yêu cầu trong Thông báo 245. Trong hạ tầng (giao thông vận tải, điện, nước),
nếu có nhiều tiền cũng chỉ phát triển được giao thông vận tải, còn điện (thủy
điện) và nước thì không thể. Muốn giải quyết triệt để, và khi nay đã có tiền
làm đường sắt, thì bauxite chắc chắn phải là theo lời dạy của COMECON (SEV)
trước kia là đưa các nhà máy alumina xuống bờ biển. Như vậy kiểu gì cũng nên
đóng cửa ngay Nhân Cơ để chờ cơ hội. Phản biện bây giờ khó thật nhất là nói với
TKV cũng khó giống như giảng toán lớp 10 cho học sinh lớp 3.
Từ tháng 2/1010 đến 3/2013, tức là chỉ sau có 25
tháng, tổng mức đầu tư của dự án Nhân Cơ đã tăng từ 11.365 tỷ (lấy chẵn) lên
14.889 tỷ, tức là, bình quân mỗi tháng tăng lên thêm 140,9 tỷ đ/tháng. Tốc độ
tăng tổng mức đầu tư là 1,3%/tháng. (Con số tương tự của Tân Rai có khá hơn,
chỉ tăng 93,5 tỷ đồng/tháng). Như vậy, cứ cái "đà" này, với cung cách
quản lý dự án như ở Nhân Cơ, kiểu gì cũng tăng, càng kéo dài càng tăng, càng
nhanh chóng dừng sớm Nhân Cơ thì mỗi tháng còn đỡ thiệt hại thêm 140,9 tỷ đồng
vốn đầu tư.
Về thải "ướt" và "khô": Bùn
đỏ của Tân Rai có 2 pha rắn và lỏng. Pha rắn chủ yếu gồm các chất ô xít kim
loại, pha lỏng là chất xút NaOH độc hại nguy hiểm. Nếu tỷ lệ 2 pha rắn/lỏng là
50/50 thì TKV gọi là gì ("khô" hay "ướt") cũng được (không
ai thèm chấp). Nhưng nếu pha rắn chỉ có 46,5% thì đó là "ướt" vì pha
lỏng (NaOH) chiếm hơn 50% trong chất thải ra. Cái "công nghệ" như TKV
nói, chính là công nghệ thải "ướt". Tất nhiên, do chất xút vừa độc
hại cho người ngoài, nhưng cũng rất đắt đối với chủ đầu tư (khoảng 14 triệu
đồng/tấn) nên phải thu hồi lại. Chỉ có điều khác nhau: "khô"- thu hồi
ngay tối đa trong dây truyền nhà máy, còn "ướt" cứ thải ra ngoài, chờ
một thời gian để 2 pha rắn và lỏng tách nhau ra rồi sẽ thu về tái sử dụng
(giống hệt như ở Hungary).
Chất lượng alumina: Alumina của TKV có tên gọi chung là Cancined
Alumina. Nhưng nếu căn cứ theo thành phần hóa học và vật lý thì khách hàng
Marubeni gọi alumina của TKV thuộc dạng "Coarse Alumina" hay
(Sandy Type). Cũng giống như đường ăn, ta thường gọi loại đường tốt là
"đường trắng", còn loại chất lượng thấp hơn là "đường cát"
vì mầu giống như cát. Trong Alumina người ta cũng dùng khái niệm
"cát" (sỏi) là "Sandy Type" để gọi alumina của TKV.
Cũng giống như bùn đỏ có chứa hơn 50% chất xút nhưng TKV vẫn gọi là "khô", TKV có gọi alumina của mình là "vàng" hay "bạch kim" cũng được, nhưng trong kỹ thuật thì phải rõ ràng theo các con số, và trong thương mại quốc tế cũng chẳng lừa được ai.
Cũng giống như bùn đỏ có chứa hơn 50% chất xút nhưng TKV vẫn gọi là "khô", TKV có gọi alumina của mình là "vàng" hay "bạch kim" cũng được, nhưng trong kỹ thuật thì phải rõ ràng theo các con số, và trong thương mại quốc tế cũng chẳng lừa được ai.
TKV phải tính lại bài toán kinh tế
Tạm
gác các vấn đề còn nhiều bất cập của dự án bauxite về tác động xấu đến môi
trường, ý nghĩa chính trị an ninh quốc phòng, theo tôi hiểu chỉ riêng về bài
toán kinh tế TKV phải tính lại theo phương pháp luận và cách tiếp cận cụ thể
dưới đây:
I. Cách tính lợi nhuận theo kế toán doanh nghiệp
A.
|
Giá thành f.ob. (có thể
tính cho toàn bộ sản lượng nhà máy rồi tính cho 1 tấn aluminia)
|
DIỄN GIẢI
|
=
|
Giá quặng bauxit dùng
để sản xuất ra alumina
Chính là resource rent mà VN trong trường hợp
tài nguyên do nhà nước sở hữu được gọi là thuế tài nguyên. Đây là chi phí mà
công ty khai thác phải trả để sử dụng tài nguyên. Nó được định nghĩa là thu
nhập (thí dụ một tấn alumina) trừ đi tổng chi phí sản xuất cộng thêm lợi nhuận
trung bình cho số vốn bỏ ra để sản xuất ra nó.
Thí
dụ giá 1 con tôm hùm là $5.00, chi phí sản xuất (lao động và vật chất) cộng với
chi phí vốn bỏ ra và lợi nhuận trung bình là $3.00, thì resource rent là
$2.00.
|
Việc
tính này là điều bình thường cần tính khi một quốc gia thương lượng để đi đến
ký kết hợp đồng khai thác dầu thô. Điển hình nhất là khi một bên bỏ 100% vốn
khai thác và điều hành khai thác. Bên có sở hữu nguồn dầu thô được phân chia
một tỷ lệ dầu thô nhất định sau khi bơm dầu lên. Cơ sở để tính toán là phân
chia thu nhập thuần thu được từ dầu
thô (tức là giá dầu thô trên thị trường trừ đi chi phí khai thác).
Giá
của quặng này có thể tính dựa vào các hợp đồng đã đạt được giữa các nhà khai
thác tài nguyên bauxit trả cho chính phủ các nước trên thế giới. Giá này phải cần đến chuyên gia quốc tế đã
làm việc trong ngành.
|
+
|
Chi phí về hàng hóa và
dịch vụ để sản xuất ra alumina
|
Gồm
tất cả chi phí về hàng hóa và dịch vụ dùng để sản xuất ra 1 tấn alumina. Hàng
hóa dịch vụ ở đây bao gồm toàn bộ chi phí về:
Điện,
nước, than, chi phí bảo quản và các
chi phí quản lý khác
|
+
|
Chi phí bảo vệ/hoàn nguyên môi trường
|
|
+
|
Chi phí về lao động
|
Công
trả cho lao động kể cả lao động quản lý
|
+
|
Chi
phí trả lãi
|
|
+
|
Thuế
sản xuất nếu có (thuế đăng ký doanh nghiệp, thuế sản phẩm, thuế đất)
|
|
+
|
Chi phí khấu hao tài sản nhà xưởng và
máy móc
|
|
+
|
Chi
phí chuyên chở ra cảng kể cả bốc dỡ đưa hàng lên tầu
|
|
+
|
Thuế
xuất khẩu
|
|
B
|
Giá bán được trên thị
trường f.o.b.
|
Đây
là giá mà người mua sẵn sàng trả sau khi hàng được đưa lên tầu. Chi phí về
chuyên chở khỏi cảng + bảo hiểm là trách nhiệm của người mua.
|
C
|
Thu nhập thuần theo
giá hiện tại (net present value)
|
|
=
|
B-A
|
C gọi là thu nhập thuần chính
là lợi nhuận theo cách tính của doanh nghiệp.
Tỷ lệ lợi nhuận = C/vốn tự có.
Vốn tự có = giá trị tài sản – giá trị vốn vay.
II. Cách tính hiệu quả trong đánh giá dự án
Để tính tổng thu nhập thuần
(net present value) của cả dự án thì phải tính. Trong trường hợp có C0 thì
Ci sẽ lớn hơn vì giá thành không cần tính khấu hao (tức là khấu hao
vốn đầu tư ban đầu C0). Nếu
tính như ở phần I thì C0=0.
Thời
kỳ
|
0
|
1
|
2
|
T
|
|||||
-
C0
|
C1
|
C2
|
CT
|
C0 = vốn đầu tư (gồm
cả vốn tự có và vốn vay).
Ci = thu nhập thuần
thời kỳ i, tính theo giá giá trị của thời kỳ hiện tại tức là thời điểm 1. Nếu chúng được tính theo giá của thời kỳ i
thì phải đưa về giá hiện tại, tức là trừ khử đi lạm phát. Khi giá bán trong hợp
đồng dài hạn cố định thì rõ ràng là giá trị hiện tại của giá bán đó sẽ nhỏ đi.
Nếu 100 là giá trị nhận được trong năm thứ 5 mà lạm phát p là 3% mỗi năm thì giá
trị 100 đó chỉ có giá trị trong hiện tại bằng = = 88.4. Kể từ năm 2001 đến nay lạm
phát trung bình ở Mỹ là khoảng 2.5%. Có
lẽ có thể lấy tốc độ lạm phát này để tính (khi tính bằng USD).
r là suất chiết khấu thực (sau khi trừ lạm phát)
thường là tính giống nhau cho từng thời kỳ. Suất chiết khấu hoàn toàn khác chỉ
số tăng giá (hay lạm phát). Thí dụ trong 5 năm nữa, chúng ta được trả giá là
100 và với lạm phát 2.5% năm thì giá trị hiện tại là 88.4 như đã nói ở trên.
Tuy nhiên như thế phải 5 năm nữa chúng ta mới nhận được 88.4. Như thế nếu muốn
nhận ngay vào thời kỳ 1 thì phải chiết khấu 88.4 và như thế chỉ được giá trị là
=76.2. Thường suất chiết khấu thực
được dùng là 3%.
Có
hai cách tính hiệu quả của dự án:
1) Với công thức ở trên, NPV là
thu nhập thuần thu được của dự án nếu như trong năm năm, mỗi năm nhận được Ci
(đã đưa về giá hiện tại). Cách tính này
thường giả định suất chiết khấu thật r = 0.03. Dự án chỉ nên làm nếu như NPV
dương. Có nghĩa là nếu âm thì sẽ không lấy lại được vốn.
2) Tính suất hoàn vốn nội tại,
tức là tính ra r, khi cho NPV = 0. Nếu r nhỏ hơn lãi suất thực (tức là khử lạm
phát) trên thị trường thì không nên đầu tư. Cách tính này có thể so sánh tỷ suất
hoàn vốn với lãi suất thực trên thị trường.
Lãi suất thực (real rate) =
(1 + lãi suất danh nghĩa (nominal rate) / (1 + lạm phát) - 1
= (1 + 6%) /
(1 + 4%) – 1 = 1.9%
ở đây, lãi suất danh nghĩa là 6%, lạm phát là 4%.
Nếu có hơn 1 phương án thì chọn
phương án có tỷ lệ hoàn vốn cao hơn hoặc NPV lớn hơn.
Xử
lý vấn đề lạm phát:
NPV là giá trị theo giá hiện tại.
·
Có thể tính C theo giá thu được tại thời điểm thu
tương lai và như thế suất chiết khấu là suất chiết khấu danh nghĩa.
·
Cũng có thể đưa C về giá hiện tại, khi đó suất chiết
khấu phải tính theo lãi suất thực.
Có lạm phát = 4%. Tiền vào ra theo giá thời điểm chi/thu. Suất
chiết khấu danh nghĩa = 6%. NPV tính bằng suất chiết khấu danh nghĩa.
0
|
1
|
2
|
3
|
4
|
Tổng
|
|
Tiền vào
|
0
|
624
|
648.96
|
674.9184
|
701.9151
|
|
Tiền ra
|
1500
|
104
|
108.16
|
112.4864
|
116.9859
|
|
Tiền vào thuần
|
-1500
|
520
|
540.8
|
562.432
|
584.9293
|
|
NPV
|
-1500
|
490.566
|
481.3101
|
472.2288
|
463.3188
|
407.4236
|
Không lạm phát (hay là mọi chi phí đưa về giá
hiện tại, suất chiết khấu thật = 1.019231)
0
|
1
|
2
|
3
|
4
|
Tổng
|
|
Tiền vào
|
600
|
600
|
600
|
600
|
||
Tiền ra
|
1500
|
100
|
100
|
100
|
100
|
|
Tiền vào thuần
|
-1500
|
500
|
500
|
500
|
500
|
|
NPV
|
-1500
|
490.566
|
481.3101
|
472.2288
|
463.3188
|
407.4236
|
Thay cho lời kết
Dự án bauxite Tây Nguyên ngày càng được thực tế
chứng minh là chủ trương sai của Đảng và Nhà nước. Nếu ngay từ đầu, giá như
người ta biết lắng nghe ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phản biện xã hội
coi bauxite như của để dành cho thế hệ con cháu chờ 25-30 năm sau khi khoa học
công nghệ phát triển, đất nước đủ tiềm lực mới khai thác. Lịch sử không có 2 từ
giá như. Chính TKV cũng không thể trốn tránh trách nhiệm “bóc ngắn-cắn dài” đã
góp phần làm tan hoang mảnh đất nghèo khó hình chữ S thân yêu của chúng ta.
TVT
(Tác giả gửi BVB)
(Tác giả gửi BVB)
Tôi thấy, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, làm ĐÚNG LUẬT.
Trả lờiXóaTheo luật pháp, diều 4 hiến pháp, mọi việc, chỉ "lực lượng lãnh đạo nhà nước" mới CÓ QUYỀN quyết định. Họ đã quyết định, tiếp tục vận hành và khai thác, thuế xuất = 0,... thì dân chỉ có quyền CHẤP HÀNH.
TS. Nguyễn Thành Sơn: So sánh đồng Sinh Quyền với alumina Tây Nguyên
Trả lờiXóaSo sánh dự án đồng Sinh Quyền và dự án alumina Nhân Cơ (hay Tân rai) ta thấy các “nét” giống và khác nhau như sau:
Những “nét” giống nhau gồm: cùng là dự án khai khoáng; cùng chủ đầu tư là TKV; cùng nhà thầu TQ, công nghệ TQ; và cùng để xuất khẩu. Ngoài ra, về mặt nguyên tắc, đã là dự án khai thác TNKS để xuất khẩu thì bất cứ dự án nào cũng phải có lãi.
Những “nét” khác nhau là chủ yếu gồm:
Đồng quý hơn Nhôm. Đồng là “kim loại quý”, còn nhôm chỉ là “kim loại cơ bản”. Đồng khó thay thế và có giá trị sử dụng rất cao, còn nhôm có thể dễ được thay thế bằng vật liệu khác, và giá trị sử dụng của nhôm kim loại rất thấp, chỉ có hợp kim của nhôm (là sản phẩm của công nghiệp đúc) mới có giá trị sử dụng cao.
Dự án đồng Sinh Quyền là 1 trong 3 dự án được Chính Phủ VN và TQ đưa vào diện ưu tiên hợp tác đặc biệt do Chính Phủ TQ cho vay (dự án đồng Sinh Quyền của Tcty Khoáng sản VN- khi đó chưa nhập vào TKV, dự án điện Cao Ngạn của TKV, và một dự án thủy điện ở miền trung của EVN). Vì vậy, chắc chắn giá vốn (bình quân gia quyền của vốn vay đầu tư) của dự án đồng Sinh Quyền thấp hơn nhiều so với alumina Nhân Cơ.
Dự án đồng Sinh Quyền là dự án thuộc công nghiệp luyện kim làm ra sản phẩm đầu vào cho ngành cơ khí chế tạo. Còn dự án alumina chỉ thuộc lĩnh vực “khai thác-chế biến” chỉ làm ra nguyên liệu khoáng sản làm đầu vào cho ngành luyện kim.
Chất lượng sản phẩm: độ tinh khiết của đồng đạt “3 số 9” là 99,98% trong khi để sử dụng được hiệu quả (làm dây điện) phải là 99,99%; Còn độ tinh khiết của alumina chỉ có “1 con 9” là 98,6%, thuộc loại “Coarse” hay “Sandy” (giống như “đường cát”).
Giá đồng trên thế giới tăng nhanh gấp 3 lần so với giá nhôm. Cụ thể, nếu tính từ 2003 đến 2011, giá đồng tăng vọt từ 1784 U$/tấn lên 8821 U$/tấn, bình quân tăng 22,11%/năm; Còn giá nhôm chỉ tăng từ 1432 U$/tấn lên có 2398 U$/tấn, bình quân chỉ tăng 6,7%/năm.
Dự án đồng Sinh Quyền đã trải qua 3 bước “thăng trầm”: có giai đoạn lỗ nặng, có giai đoạn xuất khẩu quặng đồng có hiệu quả hơn luyện ra đồng thỏi rồi xuất khẩu, và hiện nay mới đang có lãi (do giá đồng tăng vọt như nêu trên). Còn dự án alumina Tân Rai hiện chưa nghiệm thu được.
Dự án đồng Sinh Quyền, theo thiết kế, TKV còn thu ngay được thêm ít nhất 400 kg vàng/năm (nay mới chỉ thu được khoảng ½ số đó). Đây là nguồn lợi không nhỏ để dự án Sinh Quyền có hiệu quả. Còn dự án alumina Tân Rai/Nhân Cơ để làm ra được “sắt xốp” từ bùn đỏ (nhằm bù lỗ cho alumina) chắc phải sau 50 năm nữa.
Về cơ sở hạ tầng: Dự án đồng Sinh Quyền có qui mô rất nhỏ (10.000 tấn/năm) nên không mắc các vấn đề như GTVT, và cấp nước. Còn dự án alumina Nhân Cơ/Tân Rai, thì ngược lại, đang bị mất cân đối về GTVT (tắc) và cấp nước (thiếu). Riêng việc cấp điện, dự án đồng Sinh Quyền được sử dụng nguồn điện từ lưới quốc gia, còn dự án alumina Tân Rai và Nhân Cơ phải đầu tư nhà máy nhiệt điện tự dùng trên vùng cao Tây Nguyên, nhưng lại dùng than đá chở từ miền biển lên.
Chất thải độc hại của dự án đồng Sinh Quyền là axít (H2SO4) (hiện đang “mắc” không biết phải vận chuyển đi chôn cất hay bán như thế nào?). Còn chất thải độc hại của alumina Nhân Cơ là xút (NaOH), thay vì phải thu hồi ngay trong nhà máy thì TKV cho thải ra ngoài rồi “tái tuần hoàn” sau. Nếu không may (cầu trời chỉ không may thôi), các bể chứa a xít bị vỡ, hay ô tô chở a xít đi tiêu thị bị đổ thì đồng Sinh Quyền chắc đã kiếm đủ tiền “giắt lưng” sẵn để “đền bù, khắc phục hậu quả”. Còn nếu xút (NaOH) của Tân Rai/Nhân Cơ trong khi chờ chưa kịp “lắng” trong bể bùn đỏ, gặp mưa lớn tràn ra ngoài thì chắc TKV phải cử đoàn thứ 2 sang Hungary “học tập trao đổi kinh nghiệm” lại.
Dự án đồng Sinh Quyền chỉ có một chút “dại” hơn alumina Tây Nguyên ở chỗ: quặng đồng được khai thác tại mỏ đồng Sinh Quyền (sát biên giới với TQ), phải vận chuyển khoảng 30 km về Tằng Lỏng để luyện thành đồng. Các dự án bauxite thì “khôn” hơn, khai thác và chế biến tại chỗ.
Dự án này các cơ quan thông tin bên "chính thống" còn nói nó là bậy bạ. Nhưng cũng không ăn thua. Cái này gọi là "bó tay"! Trên đời có những "cái chết", dù đã "được báo trước" - Cái-chết-được-báo-trước!
Trả lờiXóaTốt nhất là đưa vào luật: không cho phép phản biện tại Việt Nam vì nếu có cũng đâu có tác dụng gì mà không khéo lại còn bị quy chụp là thù địch
Trả lờiXóaĐàn gảy tai trâu !!!
Trả lờiXóa