Translate

Trang BVB1

Thứ Hai, ngày 03 tháng 8 năm 2015

Đôi nét gốm sứ thời Lý-Trần

Lần theo một bát sứ men ngọc thời Lý - chuyện “hữu duyên” khó tin nhưng có thật


* HỒNG LÊ THỌ
Cách đây trên 38 năm, đang lang thang dạo phố dưới mưa cuối mùa ở trung tâm thị xã Vĩnh Long, tôi chợt ghé qua một cửa hàng chuyên kinh doanh đồ cổ, tránh những cơn gió qua nhanh thì phát hiện ở góc nhà một chiếc chén xấu xí và đen đúa mà sau này tôi ví von gọi là bát “mèo ăn” vì trông chắng khác gì bát cơm trộn nuôi mèo trong nhà!
Ông chủ tiệm hình như cũng chẳng quan tâm, để mặc tôi đi lui tới thoải mái, trả lời nhát gừng “hai trăm nghìn” khi được hỏi giá rồi nhìn tôi nghi ngờ, có vẻ thắc mắc”ông mua cái  nầy để làm gì” chăng. Mặc, trả thử 150 nghìn đồng xem có được không thì không nói năng, Ông lấy tờ báo cũ gói lại đưa cho khách như bất cần!
Không biết mình có trả “hớ” không, cầm chén “mèo ăn” mà vẫn tiếc thế nào ấy! “Ôi của mua là của được” tôi tự an ủi rồi quanh co tìm đường về khách sạn, đánh một giấc ngon lành sau khi được “ấm bụng” vì tô hủ tiếu kế bên. Không thắc mắc làm chi.
>> Theo ‘dấu vết’ của ‘con đường tơ lụa’ trên biển    
Về nhà, soạn mớ đồ dùng mới chợt nhớ là mình đã mua cái bát xấu xí như hình ảnh trên đây, vào nhà bếp rửa sạch bụi bặm thì than ôi…những đường vân óng ánh men xanh ngọc chảy dài rất đẹp chen lẫn những đám mây ám họa tinh xảo hiện lên rất rõ…đưa  tôi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác! Cuộc hành trình tìm hiểu căn nguyên, nguồn gốc và lí do ra đời của chiếc bát “mèo ăn” bắt đầu và đăng đẵng…kéo dài cho đến ngày nay!
Năm tháng cứ trôi đi, công chuyện làm ăn quấn quít việc này việc kia, chuyện tìm hiểu về
”mèo ăn” đứng yên, mấy mươi năm rồi vẫn chưa có một lời giải thỏa đáng. Mấy lần dọn nhà, đám đồ cổ vẫn theo tôi lang thang tuy rằng bị nứt nẻ, hư hao khá nhiều...nhưng may thay, cái bát “mèo ăn” vẫn còn y nguyên, âu là cái duyên “tương ngộ” với anh “mèo ăn” không ngờ dài lâu đến thế, cũng mừng!
Ở VN, vào sáng mồng hai Tết mỗi năm, gặp gỡ bạn bè đầu xuân, tôi thường đem “mèo ăn” ra chuốc rượu uống chung xem như chúc mừng lẫn nhau, hân hạnh được “làm vua” vì xem đó là rượu của nhà vua ban cho,  chống được độc tố** và điều đó đã trở thành “truyền thống” giữ “mèo ăn” ở bên tôi đã mấy chục năm qua.
Vậy cái bát này như tiêu đề bài viết”Có phải là cái bát đời Lý không, hay một loại hàng giả, phỏng theo?”, có một người bạn đã giải thích: “…Gốm men ngọc thời Lý Trần được làm từ đất sét trắng, và có thể có pha thêm một tỷ lệ nhất định caolin, đất được sàng lọc kỹ càng, tạo hình bằng bàn xoay nên thành gốm tương đối mỏng đều đặn, hình dáng tròn trặn cân đối, được nung với nhiệt độ cao, xương gốm đã chớm cháy, cứng, gõ vào tiếng kêu thanh. Đặc trưng cơ bản cũng như giá trị của loại gốm này là ở màu men ngọc.
Về nguyên lý, men ngọc thường lấy từ ôxit nguyên dạng tự nhiên lẫn trong đất đá, từ gốc silicat cộng với kiềm, thêm các tạp chất có hàm lượng ôxit sắt cao. Màu men ngọc chủ yếu là do ôxit sắt (FeO) tự nhiên tạo ra. Do vậy nguyên liệu chính làm ra men ngọc là các loaị đất đá có chứa ôxit côban, ôxit crôm. Do thành phần các loại ôxit trên trong đất đá cùng kiến trúc lò nung và vị trí sắp xếp sản phẩm trong lò mà sản phẩm có màu ngọc với những sắc độ khác nhau như ngọc xanh lá cây, ngọc xanh rêu, ngọc ngã màu nâu nhạt hoặc phớt vàng, v.v.
Men của gốm men ngọc Việt Nam thời Lý Trần là men đất và men gio, do đó độ trong và độ tinh khiết không được cao như gốm men ngọc Trung Quốc. Tuy vậy, men ngọc thời Lý Trần đều có độ thủy tinh hóa cao, nên men tương đối trong và độ bóng khá cao, nên gốm men ngọc thời này sờ mát tay, nhìn dịu mắt, cho ta cảm giác ngọc thạch.
Màu ngọc thạch trong, bóng, dịu mát lại được phủ tương đối dày lên xương gốm đã được chạm khắc với độ sâu nông khác nhau làm cho hoa văn có chiều sâu, ẩn hiện lung linh.
Gốm men ngọc thời Lý Trần chủ yếu trang trí bằng phương pháp khắc chìm khi phôi gốm đã được hong phơi gần khô. Phần lớn hoa văn được khắc vẽ chìm mặt ngoài sản phẩm, nhưng đối với một số sản phẩm có miệng rộng như bát đĩa thường được khắc vẽ cả mặt trong lẫn ngoài. Các hoa văn ở đây không được khắc chạm tỉa tót tỷ mẫn, mà là khắc theo lối vẽ phóng bút, nên nét khắc có chỗ nông chỗ sâu, nét to nét nhỏ giống như nét vẽ có chỗ đậm chỗ nhạt, nét to nét bé. Chính nhờ các nét khắc vẽ phóng đó nên sau khi tráng men hoa văn có độ đậm nhạt khác nhau tạo nên cảm giác lung linh sinh động hơn. Ngườì thợ gốm lúc bấy giờ với trình độ kỹ thuật cao và bằng cảm hứng nghệ thuật phong phú của mình đã phóng tay thể hiện những hoa lá cây trái thường gặp trong thiên nhiên một cách sinh động, rất có hồn.
Không những thế, nét khắc vẽ trên gốm men ngọc thường một bên sâu một bên nông, một đầu to một đầu bé hoặc giữa to hai đầu bé, làm cho hoa văn lúc ẩn lúc hiện dưới lớp men ngọc trong bóng càng trở nên linh hoạt sống động.
Hoa văn trên gốm men ngọc gặp thường gặp nhất là hình ảnh hoa lá sen và hoa cúc dây. Đối với hoa văn sen không những xuất hiện nhiều mà cách thể hiện cũng rất khác nhau. Có khi chỉ là vài cánh sen, có khi là cả một bông sen, có khi chỉ là hoa sen hoặc lá sen, có khi gồm cả hoa lá trong một đồ án, có khi hoa lá được thể hiện rất hiện thực, có khi hoa lá được thể hiện một cách tượng trưng cách điệu. Nếu như hình ảnh hoa lá sen bắt gặp trong nhiều loại sản phẩm khác nhau từ, bát, đĩa, ấm, âu, liễn, thì hình ảnh hoa cúc chủ yếu trang trí trong lòng loại bát sâu lòng với các đồ án hoa cúc dây chằng chịt khắp lòng bát. Gốm men ngọc không những đẹp ở sự hài hòa giữa màu sắc long lanh của men ngọc với sự mềm mại uyển chuyển của những đường nét hoa văn khắc vẽ chìm, mà còn đa dạng và độc đáo về các loại hình và kiển dáng sản phẩm. Gốm men ngọc thời Lý Trần thường gặp là những thứ phục vụ cho việc ăn uống thường ngày như bát, đĩa, ấm, âu, liễn. Ngoài ra cũng có một số dùng trong việc thờ cúng, trưng bày có tính chất nghệ thuật. Nhìn chung gốm men ngọc thời Lý có kích thước tương đối nhỏ, tuy vậy, gần đây chúng tôi cũng bắt gặp một vài bát đĩa khá lớn, đường kính tới khoảng 30cm.
Giá trị của gốm men ngọc, không những được thể hiện trên lớp men trong bóng như cẩm thạch và những đồ án hoa văn hoa lá sen, hoa cúc dây, khi cách điệu khi hiện thực còn được thể hiện trên kiểu dáng của sản phẩm (1).
Và rằng:
            Có ba loại men gốm tiêu biểu thời Lý – Trần. Đó là gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam)
Gốm men ngọc (celadon): Khi đã có xương gốm tốt, người ta phủ ngoài một lớp men dày màu xanh mát, trong bóng như thuỷ tinh, do đó mới gọi là gốm men ngọc. Đồ gốm men ngọc ở ta rất giá trị, được trong và ngoài nước ưa chuộng. Người ta thường sánh gốm men ngọc của ta với đồ gốm Long Tuyền thời Tống của Trung Quốc.
Gốm men ngọc thời Lý thường tạo xương gốm mỏng, thanh. Tới thời Trần, thì phần xương gốm chắc, dầy hơn. Hoa văn trang trí trên gốm, đa phần là hình tượng hoa sen cách điệu. Ngoài ra còn một số đề tài khác, như trang trí hoa thảo và các hoa dây chạy quanh bình gốm. Có ba hình thức trang trí trên đồ gốm: hoa khắc, hoa in và hoa đắp. Hoa in chìm hoặc đắp nổi thì dùng khuôn, còn hoa khắc thì đùng mũi dao đầu nhọn hoặc một đầu thanh tre vẽ lên xương gốm khi đất còn mềm. Khắc hoa rồi đem nhúng vào men, men đọng lại và tạo ra các hình hoa văn trang trí rất đẹp. Bên cạnh các đồ gốm men ngọc cầu kỳ và tinh xảo đó, người thợ thủ công còn sản xuất một số đồ gốm đại trà, có khi để mộc, có khi phủ lớp men mỏng màu vàng, màu nâu, hoặc màu da lươn mà xỉn màu và ít bóng. Loại gốm này để sử dụng thông dụng và ngay khi nung, người ta nung từng chồng cao.
Thời Lý, đồ gốm hầu như không viết chữ. Tới thời Trần, ta thường thấy dưới trôn các loại đồ gốm có hàng chữ mầu nâu “Thiên Trường phủ chế”.
Trong cuốn Gốm Việt Nam, họa sĩ Trần Khánh Chương đã viết: “Trong lòng đĩa bát thời Lý ta thường gặp những đồ án mà bố cục chung cố tình không đều đặn… hoa văn có khi được in bằng khuôn in nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Phủ lên toàn bộ sản phẩm là một lớp men xanh mát, có độ trong như ngọc mà người ta thường gọi là men ngọc hay men Đông thanh. Qua lớp men trong, tuỳ nét khắc to hay nhỏ, nông hay sâu mà hoa văn hiện lên với độ đậm nhạt khác nhau, khi ẩn, khi hiện, kín đáo, trang nhã. Trên những bát đĩa thuộc loại này, hoa văn có khi được in bằng khuôn in, nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Đây hẳn là loại sản phẩm “cao cấp”, có lẽ là đồ gốm gia dụng của tầng lớp quý tộc. Chiếc bát gốm men ngọc vẽ rồng này chắc chắn là đồ thuộc tầng lớp đại quý tộc vương công. Thời Trần nhiều vương gia có dinh phủ, có quân đội riêng.
Hình rồng này ta có thể thấy được sự tiếp nối của thời Lê sơ trong một bát hoa lam vẽ rồng phát hiện ở thành cổ khu A TK XV. Lối họa tiết in nổi ta cũng tìm thấy trong Hoàng thành một nắp hộp đồ gốm men xanh lục (vert glazed) thuộc dòng gốm có mầu sắc men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp, các đề tài hoa lá, trong đó những đồ tinh xảo trang trí rồng tìm thấy trong Hoàng thành hố A9MR là một tiêu bản tư liệu đặc sắc. Chiếc bát gốm miệng rộng hình lá sen men ngọc này được làm từ đất sét trắng. Khi cầm lên có cảm giác dầy dặn, xương đất được lọc kỹ, với mầu men xanh lục có độ thủy tinh trong nên độ bóng khá cao, nhìn dịu mắt, mát tay. Xương gốm chạm khắc rồng tinh tế được phủ men dày nên hoa văn có chiều sâu lung linh. Bát men ngọc trang trí rồng thuộc TK XIII, XIV này còn nguyên vẹn hiếm thấy, đạt tới những tiêu chuẩn điển hình trong gốm sứ, dáng hình thanh nhã, họa tiết khoáng đạt, tinh tế, rồng mây uyển nhã, lớp men của loại đất đá ô xít cô ban nhiều, tinh khiết nên đạt được sắc độ xanh trong, mát nhẹ nổi tiếng một thời và là tiêu bản quý hiếm.(2)
Trong cốt gốm Lý – Trần thành phần gồm cao lanh và đất sét, hàm lượng cao lanh chỉ chiếm 50% đến 60%; khi nung ra, mầu của đất khá xám chứ không được trắng như gốm Hồng Kông (mỏ cao lanh nằm ở Giang Tây, được coi có chất lượng tốt nhất thế giới, đến mức chẳng cần bất kỳ một máy móc nào để khử từ – loại bỏ các nguyên tố sắt trong đất cả). Mỏ đất sét trắng ở Việt Nam cho loại cao lanh trung bình, và có ở mỏ Trúc Thôn (Hải Dương), Giếng Đáy (Quảng Ninh). Về chất lượng cao lanh như vậy, gốm Đại Việt không tài nào nâng lên thành đồ sứ được cả. Muốn nung thành đồ sứ, trong nguyên liệu phải có đá bạch đôn tử, theo như Vương Hồng Sển, trong cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, tỷ lệ pha trộn là 75% cao lanh, 25% bạch đôn tử(*). Cốt gốm Lý – Trần cũng được pha thêm bã thực vật, sau khi thành phẩm, cốt tương đối xốp và nhẹ. Người ta cho rằng do đặc điểm của cốt gốm không bạch đôn tử như vậy, nhiệt độ nung của gốm Lý – Trần chỉ đạt tối đa là 1.200 độ C, nên lò nung nhiệt cao là không cần thiết, nếu cốt gốm đó mà nung trên 1.270 độ C thì cấu trúc dễ vỡ hoặc giòn quắt, hoặc tự vỡ. Theo phán đoán thì nhiệt độ nung của gốm Lý – Trần đạt từ 1.100 độ – 1200 độ C (xem thêm: http://nghethuatxua.com/do-gom-doi-ly-tran-thoi-thang-hoa/)
Nên lưu ý là “các sắc độ mầu trên đồ gốm Lý – Trần, ra rất phong phú, nhìn thoáng qua thì thấy giống nhau, nhưng đặt cạnh từng đồ, mầu sắc rất khác. Mầu men ngọc biến đổi từ xanh ngọc bích, xanh lục nhạt, lục sẫm, lục vàng, lục tím, tím xanh thẫm. Mầu trắng cũng biến đổi vô cùng, trắng, trắng nhờ nhờ, trắng ngả vàng, trắng ngả xanh nhạt, trắng vàng, vàng và vàng sẫm. Mầu nâu có từ nâu đỏ, nâu vàng, nâu nhạt, nâu đậm, mầu nâu bánh mật, nâu sẫm, nâu rất sẫm, nâu đen và đen”(3)
Bạn Lê Quang Hà đã có một nhận xét thú vị: “Một màu xanh lục mượt mà, sâu thăm thẳm, là ấn tượng đầu tiên khi nhìn thấy đài sen thời Lý này…Với chân thông phong và 3 tầng sen kép vốn rất hiếm gặp trên đài sen lục; thêm vào đó những cánh sen đều tăm tắp được trang trí rất mỹ thuật làm đài sen càng thêm xinh xắn...
Gốm Việt thời Lý Trần, vốn chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng Phật giáo, nên sen thường là đối tượng được các nghệ nhân gốm thời ấy dùng làm đề tài trang trí. Hoa sen trên gốm Lý Trần sinh động, mềm mại, vừa mộc mạc lại vừa quyến rũ, kiêu sa...
'Đóa sen' trên được phủ lên một màu men lục với màu xanh 'diệu kỳ', làm tăng thêm sức cuốn hút mãnh liệt đối với người xem...” (4)
            Bát men ngọc thường thấy: http://mangcovat.com.vn/files/editor/Anh%2010.jpg
Khanh Hoa Thuy Nga tổng hợp: “Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt” (5)
Tạm kết
Có thể chiếc bát “mèo ăn” thân thương của tôi đã ra đời trong thời kỳ lịch sử đó, đánh dấu đỉnh cao của nghệ thuật sứ gốm ở phương đông thời bấy giờ, lúc kỹ thuật lò nung nhiệt độ thấp(900-1200 độ c) ở  giai đoạn đã chín mùi  trong khi nghề làm đồ gốm ở Trung Quốc ở nhiệt độ cao bắt đầu hình thành, sản sinh loại sành sứ “quan diêu” trong các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh… phong phú và độc đáo hơn hẳn sau này?
Điều đáng lưu ý là các tác giả mà chúng tôi trích dẫn dài dòng trên lại không nói đến là men của chiếc bát nầy đều nổi lên và đổi màu rất tươi rõ rệt(xem ảnh) khi cho nước hay rượu tinh khiết vào! Chính đây là điểm khác biệt và lạ lùng mà chúng tôi muốn nói đến, phải chăng sản phẩm quý hiếm này chỉ dành riêng cho bậc quí tộc hay các vị lãnh chúa thời bấy giờ như có bạn đã nói ở trên, rằng “Mầu men ngọc biến đổi từ xanh ngọc bích, xanh lục nhạt, lục sẫm, lục vàng, lục tím, tím xanh thẫm?” một cách kỳ lạ và tinh tế, chưa thể giải thích nổi về mặt khoa học và chúng tôi chưa tìm thấy một cái bát thứ hai nào có đặc trưng như thế!(6)
7/2015
H.L.T  (Tác giả gửi BVB)
-------------
(*) Bạch đôn tử: Cốt để làm bình được gọi là Bạch đôn tử, là loại đất sét trắng có được trong quá trình núi lửa phun trào. Trong nhà mỗi gia đình làm gốm lúc bấy giờ thường xây những chiếc bồn lộ thiên rất lớn. Người thợ đem Bạch đôn tử đào được về, bỏ vào những bồn này rồi cứ mỗi khi trời mưa lại ra khuấy đất. Công việc này khá vất vả vì Bạch đôn tử có độ dẻo rất cao, lại trong một khối lượng lớn thì lại càng khókhăn(http://news.zing.vn/Chiec-binh-co-va-su-thang-tram-cua-mot-gia-dinh-dai-phu-post284400.html).
BẠCH ĐÔN TỬ: Theo nghĩa đen có nghĩa là “ngói trắng”. Cái tên được bắt nguồn từ một loại đá có nguồn gốc từ Trung Quốc. Chúng là một loại gia liệu được các lò gốm Cảnh Đức Trấn rất ưa dùng trong việc chế tạo đồ sứ. (http://gomtinhhoa.com.vn/655/print-article.bic).
Hiện nay, Bạch đôn tử(China stone) có bán sẵn đúc thành khuôn như viên gạch có đóng dấu nhà và nơi sản xuất. Nhưng loại này có trộn nhiều tạp chất, mua về phải ngâm nước và đãi cho thật kỹ để lấy ra những chất độn, phần tinh vi lọc được sẽ nhồi chung với cao lanh, tuỳ theo số lượng, tốt thì nửa phần thứ này, nửa phần thứ kia, hoặc nhồi theo “tứ lục”, tức 4/10 hoặc 6/10. Sành rẻ tiền thì ít bạch đôn tử hơn sứ ngự dụng (http://www.vinface.com/b/cua-hang-gom-su-duc-tran-ha-noi).
Gốm Lý-Trần của Đại Việt”(Phan Cẩm Thượng) viết “Đỉnh cao của gốm Lý được xác định là gốm men ngọc, khái niệm chữ Hán gọi là Thanh khí (đồ men xanh), người phương Tây gọi là gốm Celadon. Đặc điểm của gốm men ngọc có mầu xanh ngọc bích và nhiều biến sắc của mầu xanh đó. Men ngọc tạo ra nhiều cảm giác thẩm mỹ trái ngược, men rất trong nhưng nhìn thì rất đục, thành gốm dày nặng nhưng cảm giác rất mỏng nhẹ, hoa văn chìm (ám họa) nhưng nhìn rất nổi và tiếng gõ nghe trong trẻo như tiếng ngọc.” (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=6433&CategoryID=41)
Loại bột men Celadon thương nhân thời Lý có  nhập từ Trung Quốc?
China enjoyed a monopoly on the production of white porcelain for some time and exported their high quality wares throughout Asia. They later used the brilliant white background on the wares as the perfect backdrop for designs of brilliant blue patterns that are still popular on Chinese ceramics today... Vietnam, who had been under Chinese rule, was the third country to adopt, and begin the production of celadon wares during the 13th Century, though their celadon did not possess the rich green colors of the Chinese or Korean products. Influenced by their close proximity to China, Vietnam also began to produce white porcelain, actually quite some time before Japan, in the middle of the 15th century. (http://www.korean-arts.com/about/age_of_celadon.htm)
“…The unique grey or green celadon glaze is a result of iron oxide's transformation from ferric to ferrous iron (Fe2O3 → FeO) during the firing process. Longquan celadon wares… writes were first made during the Northern Song, had bluish, blue-green, and olive green glazes and high silica and alkali contents which resembled later porcelain wares made at Jingdezhen and Dehua rather than stonewares”https://en.wikipedia.org/wiki/Celadon
--------------------
Chú thích:
(6) Các nhà sưu tầm, nghiên cứu đồ cổ An Nam nổi tiếng như Yamada Yoshio hay Kimura Teizoo ở Nhật Bản cũng chỉ dừng lại ở mức phát hiện loại sứ gốm men ngọc đời Lý nhưng rất tiếc là cũng không phát hiện được điểm đặc trưng “biến sắc” đáng lưu ý này!(do số lượng quá hiếm hoi hay không thấy lưu hành trên thị trường?). Có người đặt câu hỏi”Đồ men ngọc (cũng như đồ Lý lục) không còn nhiều, phải chăng vì không được làm nhiều?( Giới Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam – Phần 2) cũng không phải là không có lý! Trong khi đó, theo Roxanna Brown(một chuyên gia nổi tiếng về đồ sứ gốm ĐNÁ—Nguyên Giám đốc bảo tàng ở Bangkok) thì nghề làm sứ gốm céladon ở VN sau đó đã được chuyển sang Thái Lan vì vấn đề kỹ thuật gặp khó khăn, những người thợ đồ gốm(Trung Quốc?) đã  phải dời lò sang Sukhothai sản xuất loại celadon kiểu Swankarok(Thái Lan)…sau này(dẫn theo Kimura Teizoo). Một thuyết khác, rằng”..Theo ông Vương Hồng Sển  thì  khi nhà Minh thắng(nhà Nguyên), thợ Tàu trở về xứ, có lẽ vì giấu nghề không chỉ dẫn dân Việt làm đồ céladon nên từ năm 1368 không thấy sản xuất đồ men ngọc ở vùng Thanh Hoá nữa..”(Phong Uyên--http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7697&rb=).

Swankarok Ceramic(16th century)
(**chống độc tố)
 Regarding the poison detecting potentiality of celadon dishes it may be noted that although it has no scientific basis the impression that celadons detect food poisoning persists in popular mind because it was believed in ancient China and Sumatra and later in Middle Eastern countries that celadons contain the quality of splitting or breaking when they came into contact with poisoned food.
Celadon: Celadon dishes were said to break or change color if poisoned food was put on them, according to Asian and Middle Eastern legends
http://www.amnh.org/exhibitions/past-exhibitions/the-power-of-poison/poison-in-myth-and-legend.
The ware was popular because of its beauty; the Chinese also valued it because it resembled jade. Adding to its popularity was a widely believed superstition suggesting that a celadon dish would break or change colour if poisoned food were put into it.

** * Về điểm này, Hồng Lê Thọ đã lý giải như sau: “Trong đợt người Hoa đời Tống di dân, lánh nạn, nhiều họ tộc đã sang Việt Nam và sau đó, từ đầu đời Nguyên, vua Thái Lan cũng đã mời công nhân sứ gốm đến Xiêm La xây dựng các lò nung tương tự. Mặt khác, theo Roxanna M.Brown, một chuyên gia về đồ gốm sứ Đông Nam Á, cho biết, sau khi nhà Nguyên suy tàn, các họ tộc đời Tống ở Thanh Hóa đã trở về Trung Quốc, và trong đó cũng đã có những nhóm người chuyển sang Xiêm La để tiếp tục sản xuất, giải thích tại sao đồ sành của Thanh Hóa không mấy phát triển khi bước vào thế kỷ thứ 16 – 17”:
Nghịch với những lập luận trên, một ý kiến phản biện tham khảo trên trang cinet.gov.vn, rằng ”Một số học giả phương tây trước đây cho rằng gốm men ngọc Việt Nam mà họ mệnh danh là đồ Tống Thanh Hóa (vì tìm thấy nhiều tại Thanh Hóa), do các “di thần” nhà Tống biết nghề gốm làm ra. Họ là những người chạy loạn sang Việt Nam dưới thời Trung Quốc bị quân Nguyên xâm chiếm (1279 – 1368). Một số học giả Việt Nam trước đây cũng vội vã trích dẫn theo. Đó là điều lầm lẫn đáng tiếc và hoàn toàn thiếu khoa học.
Thật ra, gốm men ngọc Trung Quốc thời Bắc Tống hay Nam Tống, xương đất rất đanh và nặng, hầu như đã thành sứ. Chất liệu men cũng nặng về thành phần đá hơn là gio, nên xương đất và men quyện vào nhau. Mầu men ngọc được chủ động do điều khiển lửa hoàn nguyên khá cao và chính xác. Nhưng một số ít men ngọc thuộc các lò dâu vùng Hoa Nam, đặc biệt là vùng Quảng Đông, thì xương rất nhẹ, phủ men gio, nên bộ mặt có những nét dễ giống với gốm men ngọc Việt Nam. Trường hợp này, vẫn có thêm nhiều yếu tố đối chứng khác để phân biệt.
Gốm men ngọc cũng rất thịnh hành ở những thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, nửa đầu thế kỷ 14. Khi có gốm hoa lam và gốm nhiều mầu, thì gốm men ngọc, cũng như gốm hoa nâu, phải nhường bước cho loại gốm mới. Đó là điều tất yếu. Mấy học giả phương Tây cho rằng khi quân Minh chiếm lại đất Trung Quốc, các di thần nhà Tống trở về nước, đem theo cả bí quyết làm gốm men ngọc, nên “đồ Tống Thanh Hóa” bị mai một. Đó là lối suy diễn nếu không có dụng ý, thì cũng không dựa trên một cứ liệu khoa học nào cả.”[ Gốm cổ Việt Nam và những giá trị nghệ thuật--http://gomsubattrang.net.vn/gom-co-viet-nam-va-nhung-gia-tri-nghe-thuat/a170.html
Để củng cố cho lập luận này, TS Bùi Minh Trí trong bài”Hoàng Thành Thăng Long có “lò quan”, rằng "Cơ sở vững chắc cho nhận định đó của tôi là sau này, sự phát hiện những loại gốm trắng mỏng, trang trí nổi hình rồng chân có 5 móng và giữa lòng in chữ Quan tại khu Di tích Hoàng Thành Thăng Long.  Sự xuất hiện song hành chữ Quan cùng với đồ án trang trí hình rồng chân có 5 móng, biểu trưng quyền lực độc tôn của nhà vua là một minh chứng không thể phủ nhận. Nó cũng khẳng định chữ Quan ở đây được hiểu là đồ quan dụng tức là đồ ngự dụng của vua chứ không mang ý nghĩa là quan lại thông thường.":
-----------

4 nhận xét:

  1. Chúc mừng bác "Người lót gạch" đã có tác phẩm mới trình làng từ sau khi thoát khỏi nhà từ nhỏ. Mong bác mạnh giỏi và vẫn giữ vững khí thế !

    Trả lờiXóa
  2. Chúc mừng bác "Người lót gạch" đã có tác phẩm mới trình làng từ sau khi thoát khỏi nhà từ nhỏ. Mong bác mạnh giỏi và vẫn giữ vững khí thế !

    Trả lờiXóa
  3. Thượng tướng Ngô Xuận Lịch có trách nhiệm tìm ra THẰNG THÂN TẦU nào được cài cắm trong TCCT để phá hoại quân đội ta?

    Trả lờiXóa
  4. Bác này từng nằm lăn cản đường "xe tăng Mỹ xâm lược"?

    Trả lờiXóa