Translate

Trang BVB1

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

> LUỐNG CÀY ĐẦU TIÊN


Bùi Văn Bồng

 
                               * Bùi Văn Bồng
Một mảnh ruộng mùa
Biết bao luống cày không ai tính nổi
Đời nối đời cày cấy
Mùa vụ nhào nặn nắng mưa
Mùa vụ trần thân ngâm mình bão lụt
Thấm đẫm mồ hôi luống cày nắng cháy
Mùa hối thúc mờ sương thức dậy
Cả máu xương những thời trận mạc
Trộn vào đất nâu
Đất thêm dãi dầu
Trộn vào cỏ úa
          hoa cỏ rưng rưng gọi mùa màng

Tôi muốn tìm
          đâu luống cày đầu tiên khai hoang?
Dẫu biết từ xa xưa
       người mở luống cày đầu tiên đã về đất
Hỏi đất
       đất lặng im
Đất cũng theo mùa vụ đi tìm
Luống cày theo gió trở trời chuyển vụ

Trên cánh đồng nối đời trước đời sau
                      nắng mưa tảo tần mùa vụ
Trên đất nâu mùa nào cũng mầm non nhú
Đâu luống cày đầu tiên?

Đám mây chỉ cho tôi
                    ruộng khô nứt toác
Ngọn gió chỉ cho tôi
                      xạc xào gốc rạ
Cánh cò chỉ cho tôi
           mây ráng gà báo bão
Trước mưa giông người giục trâu vội vã
Bông lúa chỉ cho tôi
                      gié mạ
Mảnh mai gié mạ non tơ
             đánh thức hạt mầm
                             khi gà chưa gáy sáng
Và từ những nơi ấy
Có luống cày đầu tiên
Trên luống cày nhịt nhằng dấu chân
                      tảo tần củ khoai hạt thóc
Đất đai đêm ngày trằn trọc
Nuôi bao kiếp người…

Nhà nông lặng người
Mênh mông cỏ hoang dự án
Mười mấy năm không đất cày
Dự án treo cùng quy hoạch
Chỉ biết nhìn cao xanh thầm trách
Trời! Sao ăn ở bất cân?
B.V.B

> Nghĩ về hai chữ “trách nhiệm”


Đám tang bà Hạnh rất đông người đến đưa tiễn. Bà có tiếng là hiền lành, đức độ, cả đời tần tảo chăm chồng, dạy con nên người. Chỉ là xóm giềng mà mắt ai cũng đỏ hoe, họ lặng lẽ chờ tiễn bà đi một đoạn đường trước khi giã biệt bà mãi mãi.
Một buổi chăm sóc sức khỏe
cho thân nhân gia đình chính sách.
             Vậy mà không khí xúc động, trang nghiêm đó đã bị người đọc điếu văn phá hỏng. Không chỉ đọc khô khan, vô cảm, ông còn đọc sai, sót khiến câu cú lủng củng, phản cảm. Có nhiều chỗ ông phải dừng lại khá lâu để xem nó là chữ gì mới đọc tiếp được. Nhìn ông chật vật với bài điếu văn, người thì chép miệng lắc đầu, người thì cố gắng kìm nén để khỏi phì cười. Họ quay sang nhau bàn tán: Sao ông ấy không đọc trước một lượt đi nhỉ, hoặc viết lại cho dễ đọc, chết thật thôi, làm hỏng cả đám tang của người ta… chả có trách nhiệm gì cả.
               Hai từ “trách nhiệm” nghe được trong đám tang khiến tôi suy ngẫm nhiều. Theo từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm là từ để chỉ phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả.
                Cứ theo ý nghĩa trên mà ngẫm thì mọi công việc quanh ta đều gắn với hai từ này. Ở trong hàng rào nhà mình, bố mẹ, con cái có trách nhiệm với nhau hay không biểu hiện ngay ở bữa ăn, giấc ngủ, manh quần, tấm áo. Bước ra ngoài, người có trách nhiệm với xóm làng bộc lộ ngay ở cái cổng, cái ngõ sạch sẽ hay cỏ mọc um tùm. Đến nơi làm việc, trách nhiệm lộ ra từ chỗ dựng chiếc xe của mình gọn gàng, phần chỗ cho người khác cùng để. Rồi trong giải quyết công việc, hai từ này càng thấy rõ hơn: người làm cho xong chuyện, cốt vơ được cái lợi về mình, còn hậu quả thế nào mặc người khác phải gánh chịu là vô trách nhiệm. Người miệng nói tay làm, bao quát, nghĩ đến cái tốt cho cả mình, đó là người có trách nhiệm…
                 Hai từ trách nhiệm trong thời điểm này lại càng cấp thiết vì chúng ta đang làm một việc rất hệ trọng của đất nước: Tham gia ý kiến để xây dựng Đảng vững mạnh hơn. Gần 1 năm nay, rất nhiều hội nghị tổ chức ra để xin ý kiến phê bình của đảng viên đối với Đảng; mỗi đảng viên phải thành khẩn tự phê bình mình… để tìm ra “bệnh”, từ đó mà “kê đơn” chữa bệnh.
                 Vậy nhưng, chẳng mấy ai “lạy ông tôi ở bụi này”, những khuyết điểm tự “phê” phần lớn là chung chung, thậm chí có thể chuyển thành… ưu điểm. Ví dụ: còn nóng nảy trong quan hệ với đồng nghiệp (ý nói là người hăng hái đấu tranh); còn ôm đồm, làm việc chưa khoa học (ý nói rất say sưa công việc và làm được nhiều việc); còn chưa nhiều kinh nghiệm sống nên chưa được lòng mọi người (ý nói còn trẻ, còn nhiều thời gian phấn đấu)… Ấy là tự phê mình, phê người khác càng đơn giản hơn: Đề nghị đồng chí quan tâm đến cơ sở nhiều hơn; đề nghị đồng chí gần gũi anh em hơn… thậm chí có người chỉ đơn giản viết vài chữ: tôi không hiểu công việc của đồng chí này nên không đánh giá được. Những kiểu phê và tự phê sơ sài, né tránh như thế thực chất là vô trách nhiệm sẽ chẳng chữa được “bệnh”. Hai từ trách nhiệm lúc này không chỉ ảnh hưởng đến một gia đình, một cộng đồng nhỏ mà là tồn vong của Đảng, của đất nước.
                  Trách nhiệm với mình, với người, điều tưởng nhỏ mà lại lớn biết bao.
Yến Thanh
---------------------------/

> GHI CHÉP TRÊN ĐỈNH NÚI THIÊN TÁNG


Cảnh sắc Tây Tạng
 
            * Minh Diện

                Đã sáu, bảy giờ tối mà bầu trời vẫn sáng trưng như ban ngày. Đêm Tây Tạng mùa này, y như những đêm trắng ở Xanh Peterbua, nước Nga. Và những con bò jack, trâu lùn cứ  miệt mài gặm cỏ trên những quả đồi trọc, những vách núi đá gan gà.
                Tôi chưa từng thấy con vật nào hiền lành, và cần cù như con bò jack và con trâu lùn Tây Tạng. Mặc gió hut hút, rét căm căm, suốt ngày đêm chúng phơi mình trên những quả đồi trọc, những  sườn núi đá gan gà lạnh cóng, cả năm không có một hạt mưa. Trên những quả đồi và sườn núi đó toàn những bụi gai sắc nhọn, thỉnh thoảng mới nhú lên một bụi cỏ đuôi chồn.  Trâu lùn và bò jack  phải lật từng hòn đá, cào từng bụi gai, mòn răng  kiếm miếng ăn trong buốt giá, hanh hao, để duy trì sự sống cho bản thân chúng, để có sữa cho người Tạng uống, có phân cho người Tạng nhóm lửa nướng bánh.
             Nhưng, Đức Lạt Ma Wingszangchinh nói với tôi:   “Con bò Jack và con trâu lùn còn sung sướng hơn người Tạng, vì nó là con vật vô tri! Người Tạng  chúng tôi phải chịu  nhục mất nước, mất bản sắc dân tộc mấy ngàn năm, sự vò xé tâm hồn không gì sánh được”.
              Lạt Ma Wingszangchinh, đã ba lần  hành hương lên đình Ngân Sơn chót vót giữa trời xanh tuyết trắng, không dính một hạt bụi trần, nơi linh thiêng bậc nhất Tây Tạng. Người Tạng ước ao, dù chỉ  một lần tới đó, cho tâm hồn  được chứng thực, cho  đôi mắt  sáng long lanh nhìn xứ sở của Thần Thánh và đối diện với cái vô cùng là mãn nguyện lắm rồi.
              Đức Lạt Ma nói với tôi:
              - Ngày xưa các dân tộc Tạng có hơn tám triệu người. Hơn nửa thế kỷ Trung Quốc chiếm đóng, bây giờ người Tạng chỉ còn  hơn năm triêu. Vào những năm 1960-1980, Trung Quốc đưa hơn một triệu tù nhân Harrywu, và hàng nghìn người bị trừng phạt trong cuộc cách mạng văn hóa đến cải tạo ở Amdo, Anggar, Lhasa. Khi hết hạn cải tạo họ ở lại, chiếm đất, đồng hóa người Tạng. Từ những năm 1982,  những cuộc di dân người Hán vào Tây Tạng tăng nhanh hơn. Nhất là từ khi Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt Tây Ninh –Tây Tạng, thì làn sóng  người Hán  theo chân  sĩ quan,  binh lính quân đội Trung Quốc tràn vào Tây Tạng càng ào ạt. Chính phủ Trung Quốc có chính sách  ưu tiên cho người Hán nhập cư vào Tây Tạng, phát triển văn hóa Trung Quốc, làm mất bản sắc văn hóa Tạng. Họ đã vi phạm Hiệp định Geneva  năm  1946, ngăn cấm định cư của các lực lượng chiếm đóng…
                                   
        Lạt Ma Wingszangchinh đã từng sang Việt Nam dự lễ Phật Đản ở chùa Hoằng Pháp thành phố Hồ Chí Minh, khi biết tôi là nhà báo Việt  Nam và là một Phật tử, ngài rất vui và dẫn tôi đi dự lễ Thiên táng một tín đồ đạo phái Mật tông Tây Tạng.
                Đức Lạt Ma nói, ở Tây Tạng có ba hình thức táng, một là Thiên táng hay còn gọi là Điểu táng, hai là Thủy táng,  ba là Bình táng. Bình táng dành cho những đứa trẻ vừa chào đời, chúng chưa mắc tội lỗi, sẽ nhanh chóng quay lại kiếp người. Trên đỉnh núi thiêng của mỗi tộc làng có những chiếc bình bằng đá xếp quanh một chồng đá  khắc kinh Phật, khi đứa trẻ chết,  người ta tắm dầu thơm, đốt hương cầu nguyện , rồi đặt vào trong bình. Cái bình  đá tròn tròn như bụng người mẹ, ấp ủ cho đứa trẻ, để rồi một ngày không xa, nó lại thành người.
              Thủy táng dành cho những người  không được may mắn lắm. Trên dòng sông Yarbo có một vũng xoáy lõm sâu vào chân mỏn núi, nhìn  hun hút,  thăm thẳm, nước xanh ngăn ngắt dội vào bờ đá,phát lên tiếng kêu ùng oàng vang rất xa. Tôi đứng trên bờ đá toàn thân nổi gai ốc. Đức Lạt Ma nói, sau khi làm lễ, người chết được thả xuống vũng xoáy này, phần xác phàm loài cá đem xuống địa ngục, còn linh hồn theo những bậc thang mà lên thiên đàng. Nghe Lạt Ma nói tôi mới hiểu ý nghĩa của những chiếc thang màu trắng vẽ bằng vôi từ bờ sông leo lên sườn núi, rải rác khắp nơi ở Tây Tạng.
              Bình táng và Thủy táng tôi chỉ được nghe kể, nhưng Thiên Táng thì tôi được chứng kiến tận mắt, và thú thật, khi viết lại chuyện đó tôi vẫn kinh sợ.
              Buổi tối hôm đó Đức Lạt Ma Wingszangchinh đưa tôi đến nhả người quà cố là Wenhmeyi, một người đàn ông đáng kính trong bộ tộc Lhoba. Ngôi nhà ông ở chân núi , cách đường quốc lộ khoảng ba cây số, vuông vức như cái bao diêm, tường lèn  đất sét, mái ngói, có hai tầng, trên ngưởi ở, tầng dưới dành cho súc vật. Chung quanh nhà,  tường cao hơn đầu người, dán chi chít những cục  phân trâu bò,  như những miếng than bùn ở làng gạch Bát Tràng.
              Trong nhà người chết không hề phảng phất  chút bi thương nào, dù ông Wenhmeyi mới chết cách đó hai ngảy, là chủ gia đình, có hai con  nhỏ . Trái lại, một không khí rất vui vẻ.
                Ông Wenhmeyi được mặc bộ đồ trắng,trùm kín đầu, chỉ để hở khuôn mặt, ngồi dựa lưng vào tường, đầu  gục xuống, tỳ cắm vào hai  mu bàn tay đặt trên đầu gối. Mặt ông đánh phấn  hồng, đôi môi đỏ chót như đang cười.  Ánh nến  bập bùng,  hương trầm  ngát thơm và, khói đuốc dâu tằm nghi ngút. Hàng chục người Tạng mặc  áo choàng Khata đẹp nhất, đọc kinh, nhảy múa theo tiếng kèn sừng.
               Tôi hỏi Đức Lạt Ma:
               - Sao không ai buồn thưa thầy?
                Đức Lạt Ma Wingszangchinh nói:
               - Người Tạng khi mới sinh  ra, phải tắm nước lạnh, hoặc phơi sương gió một ngày, sống thì nuôi chết thì thôi, không tiếc. Bởi khí hậu khắc nghiệt, nơi đây không dành cho những kẻ yếu ớt. Lớn lên, người Tạng quan niệm cuộc sống là tạm. Do đó  cái chết không đáng sợ, chỉ là một phần của bánh xe luân hổi, đi đến kiếp sau!
              - Sao  đốt cây dâu nhiều vậy thầy?
              - Dâu là cây vũ trụ!
               Đức Lạt Ma nói với tôi, khi  ngọn khói dâu tằm cuộn bay, người Tạng nhìn thấy con đường ngũ sắc đưa họ lên thiên đàng. Cây dâu còn là cầu nối giữa người âm và người dương, là cây mà Phật Tổ Như Lai làm gậy chống khi ngài đi hành hương, nên ma quỷ rất sợ cây dâu. Vì vậy đốt đuốc dâu còn để xua ma quỷ…

               Con chó ngao của chủ nhà thấy tôi là người lạ, lừ lừ bước tới. Tôi co rúm người lại vì khiếp sợ. Con chó to như con bò, đầu sư tử, mũi to miệng rộng và hai con mắt cọp. Người chủ nhà chạy ra nói một câu gì đó, con chó ngao vẫy đuôi quay vào.
               Đức Lạt Ma nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói với mọi người:
                - Đến giờ rồi!
              Một hồi kèn sừng cất lên. Dứt tiếng kèn mọi người đồng thanh đọc câu thần trú: 
              - Um-ma-nu-dat-me-ni-ta-me!
                Những chiếc vòng pháp luân  xoay tít. Đức Lạt Ma niệm chú:
                - Nam -mô –hắc-ra-dát-na-dạ-ra…
                Dứt bài Chú Đại Bi , hai người đàn ông bế ông Wenhmeyi đưa qua cửa sổ . Người bên ngoài đỡ lấy ông , rồi  thay nhau cõng cái xác đã cứng  vì giá rét lên đỉnh núi thiêng. Đi theo sau là đoàn người cầm  đuốc dâu và thổi kèn sừng.
                Từ nhà ông Wenhmeyi lên đỉnh núi thiêng đi mất ba tiếng đồng hồ. Khi mọi người tới nơi thì ánh mặt trời cũng vừa ló dạng ở đỉnh núi tuyết phía xa. Đức Lạt Ma nói đây là ngày tốt nhất và thời khắc tốt nhất để làm lễ Thiên táng cho ôngWenhmeyi.
                Một  pháp sư chuyên làm lễ Thiên táng đã có mặt ở đây rồi. Theo phong tục người Tạng, pháp sư làm lễ Thiên táng phải có dòng dõi cha truyền con nối, bởi đòi hỏi  hết sức chính xác từng động tác, chì cần một sơ suất ma quỷ sẽ tranh dành, quấy phá làm cho linh hồn người chết không lên được Thiên đàng.
                 Pháp sư này khoảng ngoài bốn mươi tuổi, Đức Lạt Ma cho tôi biết, thầy là đời thứ năm làm pháp sư Thiên táng.
                 Một cây cọc cao chót vót cắm giữa đống đá lớn, xếp chồng lên nhau, mỗi viên đá tượng trưng cho một linh hồn đã được lên Thiên đàng từ đỉnh núi thiêng này. Trên mặt viên đá,tôi thấy khắc tên người và những bài kinh Phật bằng chữ Thổ Phồn tuyệt đẹp.Từ chân  cột tới đỉnh cao chót vót, người ta buộc túm những bó lông cừu, lông bò Jack, trâu lùn xòe ra chung quanh, và căng những dây cờ phướn , như hình kim tự tháp . Mỗi là cờ là một điều cầu nguyện, một lời nhắn gừi người chết lên Thiên đàng. Ánh bình minh rực rỡ, chan hòa trên đỉnh núi, cờ phướn  ngũ sắc bay phấp phới gây cảm giác cái chết nhẹ như bông  và hân hoan ở chốn này.
                                          Bầy kền kền trên núi Thiên Táng
 
                Thầy pháp sư  đốt nhang quỳ lạy trước khối đá linh hồn, rồi bảo hai người giúp việc khiêng xác chết đặt lên một phiến đá phẳng lì, vuông vức, có năm hàng  lkim, mộc, thổ, hỏa, thủy  thông xuống  một cái chậu lớn bằng đá. Người ta nói phiến đá này  ngàn năm tuổi, rất linh thiêng. Trong cuộc cách mạng văn hóa của Trung Quốc, một nhóm Hồng vệ binh đã lên đây, toan đập nát phiến đá, để dẹp bỏ tục lệ Thiên táng của người Tạng, nhưng hai thằng bị trúng gió chết quay lơ,  nên vội vã rút quân.
                 Xác ông Wenhmeyi đã nằm ngay ngắn trên phiến đá, quần áo được cởi ra. Thầy pháp sư thắp ba nén nhang lẩm  bẩm khấn rồi nói to:
               - Ơi các Thần linh! Ơi các Thần linh! Tín đồ Wenhmeyi, đã qua kiếp gửi, nay xin dâng thân xác mình, xin các Thần linh cử sứ giả đến đón về trời!
               Những người tham dự đứng chung quanh đồng thanh hô;
               - Ơi các Thần Linh! Và đốt hương trầm, tung tiền vàng mã lên trời.
               Hai bàn tay pháp sư thoăn thoát mổ bụng moi ruột gan tim phồi và lóc thịt người chết ra từng mảnh, máu chảy theo những hàng lỗ xuống chậu đá ,đã để sẵn bột lúa mạch. Pháp sư  chia thành 365 miếng đều nhau, tượng trưng cho 365 ngày. Ruột gan trộn với bột lúa mạch, chia ra 365  viên tròn trịa như quả trứng. Xương nghiền nát trộn với mạch nha, bơ và bột lúa mạch và cũng chia ra 365 phần. Ba trăm sáu mươi lăm phần xương, thịt con người, tượng trưng cho ba trăm sáu mười lăm ngày trong một năm, một năm ngày nào con người cũng có tội, nên khi chết, con người chia thân xác mình ra bố thí! Riêng cái đầu thì lấy đá đập bể một lỗ cho bộ não chìa ra nguyên vẹn, vì đó là cốt của linh hồn. Những  người thân của ông Wenhmeyi  chăm chú quan sát pháp sư xả thịt người thân của mình, họ rất sợ pháp sư để xảy ra sai sót nào.
                     Trong Thiên táng, điều đáng sợ nhất, là phạm dao vào đầu người chết. Người pháp sư  hôm nay thực hiện  chuẩn xác và nhanh nhẹn,  ba chục phút là hoàn thành.
                  Ông cất tiếng hô:
                 - Om-ma-ni-pad-me-um! Om-ma-ni-pad-me-nm!
                  Đồng loạt tiếng hô cất lên. Hàng chục cây đuốc dâu bung ra làn khói trắng ngút trời .
 
            Dường như  bầy kên kền đã trực sẵn trong những đám mây lưng chừng kia, ngóng chờ tín hiệu, nên khi khói dâu vừa cuộn lên là chúng xuất hiện. Đầu tiên chúng lượn mấy vòng, rồi đáp xuống một mỏn đá gần phiến đá thiêng. Con kên kên đầu đàn dương cặp cánh dài khoàng hơn hai mét lên, phô cặp đùi lớn như đùi bò, cất cái cổ dài ngoãng, phía trên có cái đầu trọc lốc. Nó đi mấy bước oai vệ, lấy móng sắc quệt cái mỏ nhọn hoắt ra oai, rồi cất tiếng gào: Khruc- khruc- kh..ru..c..!
                   Dứt tiếng kêu như ra lệnh, con kền kền đầu đàn đĩnh  đạc bước tới phiến đá thiêng. Nó không hung hăng, vồ vập mà đĩnh đạc như một ông tướng. Vị Pháp sư bưng hai tay dâng cái đầu thi hài lên cao, con kên kên vươn cái đầu trọc lốc về phía trước, há mỏ gắp gọn cái đầu người, vay vút lên.  Bấy giờ cả bầy kên kên  mới lao tới ăn phấn còn lại. Trong vòng mười phút toàn bộ thịt xương người chết đã được bầy kền kền dọn dẹp sạch sẽ.
 
       Gia đình  ông Wenhmeyi và dân làng vô cùng hà hê vì người thân của họ đã được thần điểu  đưa đi trọn vẹn. Vậy là xương thịt con người trần tục đã được nương theo gió về trời! Vậy là ông Wenhmeyi đã thoát kiếp bụi trần nặng nhọc sang cõi sáng láng siêu nhiên. Cái bánh xe luân hồi lại quay, quay mãi!
                 Đức Lạt Ma Wuangszngchinh  buộc vào cổ tay tôi một sợi chì hồng làm phước, bảo rằng, tôi là người may mắn  được dự một lễ Thiên táng của người Tạng. Tôi cảm ơn  Đức Lạt Ma và đứng giữa đỉnh núi thiêng vái bốn phương trời đất. Lần đầu tiên trong đời tôi đặt chân tới Tây Tạng, mảnh đất  thiêng  với cung điện Poltala tráng lệ,  Đại Chiêu Tự cổ kính,  hồ Namsto, như hòn ngọc xanh biếc trên đỉnh  núi cao 5200 mét giữa tuyết trắng mênh mông.
                Tây Tạng, một vẻ đẹp kỳ bí, một đất nước hiền hòa và biết bao điều bí ẩn. Đến Tây Tạng để được dãi bày, được gột rửa tâm can mình, đó là suy nghĩ của nhiều người, trong đó có tôi.
M.D                                                                     

> HỎNG TỪ HỆ ĐIỀU HÀNH


              Sáng nay, rê chuột, chui vào mấy ngõ ngách trên mạng, len qua cả tường lửa để đến được mấy ngõ trái, ngách phải. Trên trang Ba Sàm, trang BBC thuộc diện “lề trái” có bài của tác giả Nguyễn Hữu Vinh với tựa đề: “Có một Tổng thống Cộng hòa Việt Nam”.
              Đây là một bài viết khơi gợi, phân tích về vị thế, vai trò của cầm quyền, uy tín và trách nhiệm của người đứng đầu, nắm trong tay vận mệnh, lo cho thần dân thiên hạ và sự phát triển của đất nước.
              Bài này lên mạng đã lâu, từ 25-1-2009, khi cụ Nông còn làm Tổng bí thư. Đọc cái tít lên đã thấy gợi trí tò mò. Có lẽ cho là vấn đề khá là nhạy cảm, tác giả đã đưa lên đầu bài lời phi lộ: “Đó chỉ là cái tên giả định như giấc mơ, gợi lên từ những gì được chứng kiến qua cuộc diễu hành và lễ tuyên thệ nhậm chức của vị Tổng thống thứ 44 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Barack Obama, gây sự chú ý chưa từng có trên toàn thế giới”.
   Qua nghi thức đăng quang, nhậm chức của các nước phương  Tây, nhất là ở những vị trí nguyên thủ quốc gia như Tổng thống, Thủ tướng, Quốc vương... tác giả nêu sự so sánh  "trông người - lại ngẫm đến ta”, đưa ra hệ lụy của sự quá thừa các lễ hội, lễ lạt tốn kém, hình thức, mà những lễ trang trọng ghi đấu ấn cho chặng đường phát triển mới của một dân tộc, một quốc gia, cho từng người dân, trước hết ngay cho chính những người lãnh đạo, lại không giống ai. Nhiều khi chỉ một dòng tin trên báo, vài bữa tiệc nội bộ cơ quan, coi như xong!
Bàn tay nhân sự, cất nhắc, đề bạt, phân công cán bộ
 
Tác giả viết: “Nhưng… tổ chức bộ máy nhà nước sẽ được cải tổ để khỏi phải băn khoăn về quyền lực thực sự của người đứng đầu nhà nước nữa. Ví như Hiến pháp 1946, Điều 44: Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng. Và Điều 47: Chủ tịch nước Việt Namchọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết …Nhìn vào đây thấy rõ ngay sự khác biệt rất lớn của mô hình nhà nước thời 1946 và thời nay (thực chất là nửa thế kỷ nay).
Tác giả kết luận rằng: Nói nôm na là khi đó, tương quan quyền lực giữa Chủ tịch/Tổng thống-Thủ tướng giống mô hình thể ché chính trị-xã hội ở nhiều nước Tây Âu đang tồn tại và phát triển hàng thế kỷ; còn ngày nay, nó lại giống với … Liên Xô – một thể chế đã sụp đổ mà hậu quả một phần quan trọng cũng do mô hình tổ chức nhà nước bất hợp lý mà ra”.
Bài viết cũng nêu lên sự quá chậm trễ, trơn lỳ trong cải cách thể chế chính trị trong bộ máy nhà nước, thể hiện bằng công tác tổ chức cán bộ, phương pháp công tác, mội quan hệ nội tại và nội bộ đã mặc định sẵn hết rồi. Suốt hơn nửa thế kỷ cứ theo nếp mòn, lối cũ mà làm: “Cuộc thử nghiệm qua mấy thế hệ và với bài học nhãn tiền của cả một Đông Âu chuyển đổi rồi mà còn tiếp tục bê bết vẫn chưa đủ hay sao? “Đổi mới” mà không đổi thứ quan trọng nhất thì chắc chắc sẽ còn phải vật vã dài dài!”.
             Ngẫm ra, tôi thấy khoái cái từ dùng của tác giả là “vật vã”. Đúng thế, ta gọi Chủ tịch nước, ta gọi Chủ nhiệm ủy ban này, ủy ban kia, rồi cũng có chủ tịch xã, huyện, tỉnh, chủ tịch hội này, chủ nhiệm câu lạc bộ kia, chủ nhiệm HTX…Sao thấy chức danh của ta cứ loạn xì ngầu.
Nhưng đó mới chỉ là tên gọi các chức danh, trong nguyên tắc Điều lệ Đảng còn ghi rõ việc gì cúng “lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách”, nhưng lại không ai có đủ thẩm quyền phụ trách những cá nhân, sinh ra hệ lụy dụ vụ việc tày đình, vấn đề hóc búa, lớn lao cũng chẳng hề có cá nhân nào phải đứng ra chịu trách nhiệm, không ai có quyền quyết định vấn đề gì cả. Mọi chuyện lớn, nhỏ đều phải “tập thể lãnh đạo” chịu trách nhiệm chung là an toàn hơn hết.
 
Ta tự đề ra những cái gọi là chức danh, nguyên tắc để tự trói chân mình. Đảng viên có nhiều người chơi chữ: Nguyên tắc là bóp nghẹt mọi sáng tạo, mất tự quyết, kém tự chủ, vì cứ phải để “nguyên”, ắt là phải “tắc”. Một cá nhân được phân vai vế (chức danh, vị thế, cái ghế) mang tiếng có quyền nhưng không được làm (hành - trong quyền hành), nhưng cũng là kẻ hở để cá nhân mượn cớ có quyền để đi hành thiên hạ, thả sức hành xử tùy tiện, tệ hại với dân mà không bao giờ tự chịu trách nhiệm cá nhân. Một thể chế sinh ra các thể thức lạ hoắc, chẳng giống ai. Lại do những lạ hoắc đó mà sinh ra đủ thứ tùy tiện lạ lùng.
        Từ sự phân tích đó, tác giả nêu hệ lụy rằng: Xã hội cộng sản chủ nghĩa hướng tới tập thể hóa tất, nên lãnh đạo cũng theo lối tập thể, không đề cao cá nhân… Dù vị Chủ tịch có gọi là to nhất nước, nhưng về mặt Đảng lại chưa chắc to nhất, như thế là cắc cớ rồi. Nếu tổ chức to, thì các vị khác thuộc hàng tứ trụ triều đình mà “đăng quang” sẽ ra sao đây?
            Thêm nữa, không như thời mới độc lập 2-9-1945, mô hình nhà nước mang màu sắc cộng hòa rõ nét, vị chủ tịch theo như Hiến pháp những lần sửa đổi sau này có lẽ ít quyền hơn, gần với kiểu được gọi là xã hội chủ nghĩa hơn.
Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826), nói: “Sự phân chia các quyền lực đó theo một cách thức sao cho chức năng của một nhánh chính quyền trong một vấn đề cụ thể thì bị giới hạn bởi chức năng của một nhánh khác có thẩm quyền về cùng vấn đề ấy hoặc về một vấn đề khác có liên quan. Thường được gọi là các biện pháp kiểm soát và đối trọng quyền lực lẫn nhau. Về cốt lõi, đây là một hệ thống nằm ngay bên trong chính quyền nhằm đảm bảo tính trách nhiệm của chính quyền, được gọi là kiểm tra, giám sát bên trong. Vì sự kiểm tra này tạo ra một cơ chế mặc nhiên ai nắm và được phân công sử dụng quyền lực nhà nước cũng phải bị kiểm tra, theo nguyên tắc phòng ngừa, còn cơ chế kiểm tra được tiến hành từ bên ngoài hầu như chỉ được tiến hành một khi đã có hậu quả xảy ra”.
 
Nghị quyết nào cũng nêu, mới nhất là Hội nghi Trung ương 6, là “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng”. Nhưng ai cho tăng cường? Quyền gì để tăng cường? Tăng cường bằng  cách nào? Không tăng cường được thì sẽ ra sao? …Không ai trả lời được! Đảng lãnh đạo "trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện", nhưng Đảng không thể nhảy ra làm những việc thay cho chính quyền, thay cho Nhà nước, chính phủ, hoặc chia việc với chính quyền. Cơ bản là khi chính quyền làm sai, thì vai trò, chức năng của Đảng cần xuất hiện kịp thời, đúng nguyên tắc điều lệ, kỷ luật đảng, theo đúng pháp luật Nhà nước, nếu không làm được như vậy thì Đảng không còn là một Đảng cầm quyên, mất ý nghĩa lãnh đạo, sự tồn tại của Đảng coi như hết uy tín, trở nên vô nghĩa... Khi sự tương thích của bộ máy bị khập khiễng, chắp vá thì coi như bộ máy kém sức hoạt động rõ nét, vận hành liên tục bị trục trặc, nhiều khi lại là nguyen nhân chính gây ra các hiệu ứng ngược lại, trì kéo, tự phá máy. Ta, hiện nayvà nhiều năm qua đã như thế. Vừa rồi, trong chuyến thăm Vườn Quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau), ông Nguyễn Tư Trà, đảng viên hưu trí, nói rằng cả chi bộ họp hôm trước, các đảng viên chuyện phiếm lúc giải lao đã đức kết rằng: Thể chế "ưu việt" của ta là:
                            " Đảng lo trung kiên,
                             Nhà nước không có quyền,
                              Chính phủ chi tiền thả sức,
                              Nhân dân chịu nhiều oan ức, bất công".
Nghĩ ra, tôi thấy đúng! Suy cho cùng, cần thẳng thắn, rất "khoa học, khách quan, biện chứng" mà tự nhận diện rằng thế chế, cơ chế của ta là hỏng cả hệ điều hành, chứ không đơn thuần là "lỗi hệ thống" như lâu nay vẫn quen gọi.
Thực tế đã cho thấy có những cái ghế mà người "ngồi lên đó" hầu như chẳng để làm gì, đã gọi là theo cơ chế, cơ cấu thì có cũng được, không có cũng chẳng sao! Có danh mà không có thực quyền, có quyền mà không biết sử dụng quyền hành. Người này không có thực chất, người kia không có thực quyền, kẻ khác chỉ lo thực dụng, toàn bộ hệ thống chỉ căm cắm lo thực thi, cả hệ điều hành cũ kỹ, lạc hậu, công thức đều xa thực tế. Vậy làm sao có chất lượng, có được hiệu quả thực sự? Cứ kéo dài sự "ổn định chính trị" trong bộ máy, của cả hệ thống quan liêu, trì trệ như thế thì càng kìm hãm sự phát triển. Muốn ổn định chính trị phải thường xuyên tự đổi mới, luôn luôn xuất hiện nhiều vận dụng sáng tạo, sát thực tế, giảm thiểu biên chế tránh cồng kềnh phình to, giám sát chặt chẽ mọi hoạt động, đừng để hệ thống đứng im. Nhà mà không xây cho chắc, cũ, mục không sửa, năm nào cũng chặt tre chống bão thì càng có nguy cơ sập, tre cũng hết. Nhà lãnh đạo rất cần nghe, chịu nghe những góp ý xây dựng chân thành, không nên thấy khác nếp cũ lối mòn thì cho là có ý đồ chê bai, hạ bệ, chống phá thì rất nguy.
Nhưng nay trong cơ chế thị trường, mở rộng và kêu gọi nhiều nguồn đầu tư nước ngoài, hội nhập WTO, xu thế toàn cầu hóa, thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa, rất cần đường lối, chính sách phù hợp, nhạy bén, thiết thực; nếu không muốn mang cái tiếng là "lý luận thì xám xịt mà cây đời mãi mãi xanh tươi", hoặc là "lý thuyết trên mây, rễ cây cắm đất"...Cái mục tiêu rất kêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn mình" cứ lặp đi lặp lại hoài trong các Nghị quyết, một thực trạng tự giam chân ngay trong các nội dung, mục đích, tiêu chí của sự nghiệp đổi mới...
Không cứ phải nước nào cũng có Tổng thống, nhưng ở đây cần tham khảo những mô hình, thể chế chính trị-xã hội có ưu tế cao, phát huy được cao độ vai trò, quyền lực, trách nhiệm của cá nhân người đứng đầu mà không đi đến đọc tài, độc đoán, chuyên chế, trên cơ sở phải bảo đảm dân chủ, nhà nước pháp quyền; không thể tranh công, đổ lỗi cho nhau, hoặc ù xọe "hòa cả làng", "nhiều sãi không ai đóng của chùa", "một nhà hai chủ bất hòa / hai vua một nước ắt là không yên"... Khi chế độ chính trị chưa khai thông đi vào đúng quy luật vận hành xã hội, quy luật và khoa học về con người, thì dù thể chế, cơ chế, pháp chế rồi hàng loạt chế tài, chế ngự cũng chỉ là những giải pháp tình thế. Hóa ra, lỗi hệ thống không còn ở phần mềm có thể dùng kỹ thuật, cài đặt phần mềm với các disk, file, các server hỗ trợ để sửa được, mà lỗi hệ thống này đã làm tê liệt toàn bộ hệ điều hành. Tức là hỏng ngay từ gốc của hệ điều hành, hết khả năng cài bổ sung, rất khó khắc phục thiếu hụt, cũng coi như đành bó tay chấm com khi muốn ráng lên hết công sức sửa lại.

Bùi Văn Bồng

> BỘ MÁY XOÁY MÒN NGÂN SÁCH


Một xã có đến mấy trăm viên chức, xã tự đề ra các khoản thu áp vào mỗi đầu dân để nuôi cái bộ máy đó, nhưng theo luật sư Lê Đức Tiết: “Đây không phải là hiện tượng cá biệt”. BVB cho rằng đó chỉ là chuyện nhỏ, bởi như báo chí đưa tin, khối các cơ quan Trung ương hiện nay có tới 650.000 đảng viên (?!). Thế nên, “bộ máy xoáy mòn ngân sách, vét sạch ngân khố"...


       * Luật sư Lê Đức Tiết
(Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật
UBTƯMTTQ Việt Nam)
Dư luận từng đã bị sốc khi truyền thông tiết lộ ở một xã của huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa có đến mấy trăm viên chức, trong đó chỉ có 25 người được ngân sách chi trả. Số còn lại là các khoản phí, lệ phí nhân dân đóng góp. Nhiều người ngồi không vẫn ăn lương. Có ý kiến cho rằng đây không phải là hiện tượng cá biệt. Hàng ngày, nhiều tin tức không tốt lành được đăng tải trên các trang báo khiến lòng dân bất an như: dịch bệnh gia cầm, gia súc luôn xảy ra; buôn lậu, hàng giả khắp nơi; giá sữa, giá thuốc liên tục tăng cao; rau, quả, thịt chứa nhiều độc tố bày bán tràn lan; xăng dầu bị pha trộn; khai thác trộm khoáng sản xảy ra công khai; lâm tặc mặc sức hoành hành, thậm chí gỗ sưa giữa phố phường Hà Nội cũng bị chặt trộm; nhiều loại phí, lệ phí tự mọc ra. Ấy vậy mà khi trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, các nhà chức trách đều đổ cho là do… thiếu cán bộ!
               Những biểu hiện như: Bành trướng tổ chức; hành chính hóa hoạt động xã hội; can thiệp quá sâu vào đời sống dân sự là ba khuynh hướng chung của nhiều nhà nước hiện nay. Hoạt động mưu sinh của con người ngày càng đa dạng, dân số ngày càng đông là những nguyên nhân chính làm cho hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước ngày càng mở rộng. Đó là lý do khách quan. Nhưng những nhà quản lý khôn ngoan không bao giờ để cho bộ máy nhà nước phình to một cách tự phát như người mắc bệnh béo phì.
                 Có 4 giải pháp cơ bản để làm cho bộ máy nhà nước trở nên tinh, gọn, trong sạch và quản lý có hiệu lực cao.

Thứ nhất, cần định rõ chức năng, nhiệm vụ bộ máy các cấp: Trung ương (TƯ); cấp tỉnh, thành phố; cấp huyện, quận; và cấp xã, phường. Chức năng chính của cơ quan cấp TƯ là những hoạch định chiến lược phát triển đất nước. Làm việc ở các cơ quan TƯ phải là bộ óc chiến lược xuất sắc. Phải cơ cấu lại sự phát triển nền kinh tế là sự thừa nhận trên thực tế rằng chiến lược phát triển đã sai hướng hoặc không rõ ràng. Nguyên nhân là do thiếu vắng những chuyên gia đầu đàn . Trùng lặp, ôm đồm, sự vụ của cơ quan quản lý cấp chiến lược sẽ làm cho bộ máy các cấp luôn bị động, luôn buộc phải có các giải pháp tình thế, luôn đòi hỏi phải tăng biên chế. Rốt cuộc cái đầu trở nên to quá khổ. Không đòi hỏi phải có nhiều bộ. Ít bộ, nhưng tuyển dụng được nhiều nhà hoạch định chiến lược sáng suốt là cách tốt nhất để tinh giản bộ máy cấp TƯ.
Chức năng chính của cấp tỉnh là cụ thể hóa phương hướng chiến lược dài hạn của TƯ cho phù hợp với các đặc điểm, các thế mạnh về kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương mình. Bộ máy cấp tỉnh không nhất thiết phải có tất cả các tổ chức mà TƯ có. Bộ máy cấp tỉnh chỉ bao gồm các tổ chức, chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa đặc trưng của địa phương. Làm như vậy sẽ tránh được tình trạng tỉnh nào cũng có khu công nghiệp, nhà máy xi măng, đường, bia, rượu… nhưng thiếu nguyên liệu sản xuất, hàng hóa làm ra thiếu tính cạnh tranh, rốt cuộc gây lãng phí lớn về đất đai, đất đai, nhân lực, tiền bạc.
Chức năng của cấp huyện, quận là đôn đốc, kiểm tra việc thực thi và sự tuân thủ pháp luật trong quá trình thực thi các chủ trương, kế hoạch của TƯ và cấp tỉnh, thành phố ở địa phương mình. Viên chức cấp huyện, quận là những cán bộ đốc chiến năng động, nhạy bén, có trình độ chuyên môn sâu thuộc lĩnh vực phụ trách. Tuyệt đối không giao cho cấp huyện, quận quyền lập quy. Khi có quyền lập quy, cấp huyện quận dễ biến nó thành quyền lập pháp và trở thành những nhà nước con trong nhà nước chung. Vụ Chủ tịch UBND ở một huyện ra những văn bản trái với Luật Đất đai gây bức xúc dư luận trong cả nước là một ví dụ. Tổ chức cấp quận, huyện hiện nay có tất cả các cơ quan như ở TƯ vì các cơ quan trung ương muốn có chân rết xuống tận huyện, quận. Ở huyện, quận có cả cơ quan quyền lực (hội đồng nhân dân) và cơ quan tư pháp (Công an huyện, Kiểm sát huyện, Tòa án huyện). Nếu bỏ HĐND cấp huyện và cơ quan tư pháp tổ chức theo khu vực thì biên chế nhà nước sẽ giảm thiểu đi rất nhiều.
Cấp xã, phường là cấp hoạt động tự quản về mọi mặt theo pháp luật và theo kế hoạch chung của tỉnh. Giao quyền tự quản rộng rãi cho cấp xã, phường là cách làm tốt nhất để phát huy được tính chủ động, năng động tối đa của nhân dân đồng thời ngăn ngừa có hiệu quả nạn hách dịch, lạm quyền, ức hiếp dân của cán bộ, viên chức thoái hóa cấp cơ sở.

Thứ hai, cần thi tuyển để tìm người thạo việc. Nhiều nước đã thực thi chế độ thi tuyển viên chức và bỏ chế độ biên chế suốt đời. Viên chức có quyền lựa chọn nơi làm việc có mức lương cao hơn xứng với tài năng của họ. Với chế độ thi tuyển để tìm người, mọi viên chức buộc phải tự giác thường xuyên học tập, trau dồi đạo đức, nâng cao trình độ và luôn mẫn cán trong công việc. Nó sẽ tránh được tình trạng biến công sở thành vườn trẻ – một cụm từ mà dư luận thường dùng để phê phán tình trạng viên chức nhà nước tìm cách đưa con em của mình vào làm việc trong biên chế nhà nước cho dù họ không đủ kiến thức, năng lực đảm nhiệm công vụ.
          Thứ ba, nên xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước. Đây là một trong những phương hướng chính của việc tinh giản bộ máy nhà nước. Nhiều lĩnh vực quản lý của nhà nước đều có thể giao cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) đảm nhiệm trên cơ sở đấu thầu công khai và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Lợi ích nhiều mặt trong việc xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước đã được kiểm chứng. Song chính sách này chưa được thực thi một cách rộng rãi là do tính vụ lợi của chính viên chức nhà nước. Để thực thi chính sách xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước thì phải phá bỏ cho được rào cản từ cơ quan, viên chức nhà nước gây ra.
Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra rộng khắp, nhạy bén và có hiệu lực. Sản xuất, xây dựng mà thiếu kiểm tra thì sản phẩm làm ra thường kém chất lượng. Con người, tổ chức thiếu kiểm tra thì dễ bị tha hóa, hư hỏng. Đó là kết luận đã được thừa nhận. Việt Nam hiện có một hệ thống kiểm tra rộng khắp bao gồm: kiểm tra Đảng; giám sát của Quốc hội; thanh tra Chính phủ, các Bộ, các ngành, các địa phương; giám sát, thanh tra, kiểm tra nhân dân. Nhưng kết quả rất hạn chế. Nguyên nhân không phải do thiếu người kiểm tra mà là do hoạt động kiểm tra còn mang nặng tính hình thức. Nguyên nhân chính là hoạt động kiểm tra, giám sát thiếu tính độc lập, khách quan, còn phụ thuộc nhiều vào quyết định của người chủ trì.
 
Tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII, việc Chính phủ tuyên bố do khó khăn về ngân sách nên hoãn tăng lương theo lộ trình đã làm không khí thảo luận nóng lên. Lý do eo hẹp về ngân sách không thuyết phục được các đại biểu Quốc hội và dư luận nhân dân.Vậy đâu là nguyên nhân? Có hàng loạt nguyên nhân được nêu ra và bàn luận trong xã hội. Đa số đểu có nhận xét chung rằng nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm phát sinh mọi bất cập, xét đến cùng, đều do tình trạng trùng lặp về lãnh đạo, quản lý, do sự cồng kềnh về tổ chức bộ máy, do đội ngũ viên chức đông nhưng trách nhiệm không rõ ràng, không nghiêm. Ông Mai Ái Trực có lần nói với phóng viên báo chí rằng ông là Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhưng không thể kỷ luật nổi một cán bộ địa chính xã sai phạm. Năm 2006, biên chế cả nước là 1.778.734 người. Tại kỳ họp Quốc hội khóa XII, đại biểu Nguyễn Đình Xuân ở Bộ Nội vụ, cho biết, trong 10 năm (2001-2010) biên chế TƯ tăng 7,4%, biên chế địa phương tăng 41,2%. Trong dân gian có câu ngạn ngữ mang đậm tính triết lý nhân văn được truyền tụng từ lâu đời rằng: "Chín con dê với mười người chăn dắt thì gia chủ không còn thịt dê để ăn”. Na-pô-lê-ông – Hoàng đế nước Pháp có câu nói nổi tiếng: "Đừng để viên chức ngồi không”.
Nhiều người nước ngoài nhận xét rằng viên chức Việt Nam rất thoải mái trong thi hành công vụ và rất tùy hứng trong giờ giấc làm việc. Để nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, không thể để tiếp tục xẩy ra tình trạng có người không biết thổi sáo nhưng vẫn chễm chệ ngồi trong ban nhạc của nhà vua. Chuyện kể rằng có nhà vua muốn thử tài các nhạc công, đã ra lệnh cho từng người một phải biểu diễn tài nghệ của họ trước mặt nhà vua. Có anh thổi sáo nhưng không biết thổi. Khi biểu diễn anh ta chỉ hờ đặt sáo lên miệng. Ngồi không ăn lộc của nhà vua đã nhiều năm nhưng không ai phát hiện. Đến khi sắp lộ mặt, anh ta nhanh chóng trốn khỏi cung đình về quê trở lại với nghề cày cuốc vốn là nghề đích thực của anh ta. Chuyện xưa như trái đất. Nhưng đây đó hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn dưới muôn hình vạn trạng.
Ls LĐT
 

> Tiếng nói VIỆT NAM ở TRƯỜNG SA


   * Bùi Văn Bồng
 
Đây là Tiếng nói Việt Nam…”
Biết mấy tự hào âm thanh ấy
Nắng Trường Sa, gió cát Trường Sa
Nỗi nhớ quê nhà xôn xao sóng vỗ...

Loa phóng thanh trên cành phong ba
Đài bán dẫn đặt bên công sự
Bình yên đảo xa chiều lộng gió
Lính trẻ quây quần nghe Tiếng nói Việt Nam...
 

Ôi! Tiếng của quê hương, Tổ quốc
Bốn ngàn năm vang đến cõi bờ xa
Tiếng gươm giáo thuở nào đi giữ nước
Tiếng gió đồng dào dạt khúc dân ca

Nghe xạc xào bờ lau bãi sậy
Tiếng võng trưa kẽo kẹt dưới tre làng
Tiếng thoi đưa nhịp nhàng trong xưởng máy
Tiếng trống trường mỗi sáng mặt trời lên

Nghe tha thiết tiếng suối rừng cuộn chảy
Sáo diều ru mướt gió chiều hè
Tiếng ve ngân dìu dặt hàng me
Nhịp hò khoan xóm chài trăng bát ngát…

Nơi Trường Sa đêm ngày sóng hát
Cứ ngân vang Tiếng nói Việt Nam
Thao thức đồng quê mùa gieo hạt
Cành san hô đảo đá bỗng xanh mầm

Thiêng liêng tiếng quê hương, Tổ quốc
Hải đảo thân yêu như ngõ xóm đường làng
Mỗi buổi sáng lại vang lên thân thuộc
“Đây là Tiếng nói Việt Nam…”

    B.V.B
 

> Hải quân ASEAN tăng thêm sức mạnh đoàn kết

 
              Những sáng kiến của Hải quân Việt Nam về tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm của sĩ quan trẻ trong khối ASEAN đều thiết thực, có tính khả thi cao. Thượng úy Tan You Cai, sĩ quan Hải quân Singapore cho biết: “Trong năm 2012, đây là một kỷ niệm khó quên, như tạo một động lực, một ý chí mạnh mẽ cho người lính hải quân. Nếu duy trì sự giao lưu như thế này thường xuyên sẽ giúp sĩ quan trẻ trong khối có cơ hội trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau…”.
           Giao lưu sĩ quan trẻ Hải quân ASEAN"  lần thứ nhất tại TP Hồ Chí Minh và TP Nha Trang (Khánh Hòa), thật khó phai nhạt trong lòng tuổi trẻ hải quân các nước trong  khu vực, một cuộc giao lưu để lại những đấu ấn sâu sắc, một biểu thị sự đoàn kết giữa các nước trong khu vực trong nhiệm vụ bảo vệ biển -đảo, chủ quyền thiêng liêng của mỗi quốc gia.  Tại giao lưu đã diễn ra các hoạt động: Lính biển các nước ASEAN cùng tham dự các giao lưu, trao đổi về tình hình biển-đảo mỗi nước, nguyện vọng và chí quyết của nhân dân, của tuổi trẻ và người lính biển trong bảo vệ chủ quyền, lãnh hải, sự liên kết - đoàn kết thành sức mạnh của các nước trong khu vực...
          Một trong những ấn tượng khó quên trong giao lưu là  Tọa đàm sĩ quan trẻ Hải quân ASEAN, thăm tàu hộ vệ tên lửa Đinh Tiên Hoàng, thăm, giao lưu với tuổi trẻ Học viện Hải quân và tp Nha Trang, thăm các danh lam thắng cảnh tại tp Hồ Chí Minh và tp Nha Trang. Phóng viên báo Hải quân đã ghi lại các hoạt động này và xin trân trọng giới thiệu với độc giả.
Những gương mặt sĩ quan Hải quân ASEAN tham gia "Giao lưu sĩ quan trẻ Hải quân ASEAN" lần thứ nhất
 
 
Gặp gỡ, làm quen giữa sĩ quan trẻ Hải quân Xin-ga-po và Việt Nam
 
 
Sĩ quan trẻ Hải quân ASEAN thăm chiến hạm Đinh Tiên Hoàng
 
 
 
Sĩ quan trẻ Hải quân ASEAN thăm Bảo tàng chiến khu xưa
 
 
 
Ấm tình đoàn kết trong tối lửa trại- giao lưu văn hóa, văn nghệ
 
 
 
Cùng nhau vì một ASEAN hòa bình, hữu nghị, đoàn kết và thịnh vượng
 
 
Tạm biệt đất nước Việt Nam tươi đẹp và mến khách, cùng hẹn ngày gặp lại
 
Tin,ảnh: Trọng Thiết
-----------------------

> QUAN MÊ QUY HOẠCH


  * Bùi Văn Bồng

Những quy hoạch ông vạch ra
Những quy hoạch trình ký của lâu la
Ông mừng lắm
Tỉnh bơ
Ký !
Đẹp như mơ, phấp phới hơn cờ
Cờ có khi còn lặng gió
Quy hoạch ông vạch ra luôn rộng mở
Đất đai, tiền, vàng, biệt thự, xe hơi..,
Con trai-Chủ tịch tập đoàn
Con gái-Hội đồng quản trị
Cháu chắt sẽ làm…lớn, và còn rất lớn
“Hà..hà.. Hoàng đế xưa không thể hơn ta…”
Quy hoạch của ông
               dài hơi cho đời con, cháu, chắt…
Với ông - quyền lực
Với ông – Tiền –vàng
Quy hoạch không có độ dừng

Khi đương chức ông quyền hành cả đống
Đất vàng đất bạc, miếng nạc miếng giò…
Chỗ nào lợi nhuận to
Cả một lũ cò xun xoe chạy mánh
Tay vơ, tay đánh, vây cánh, ô che…miệng ông đe:
“Thằng nào đụng miếng ăn của ông - Liệu hồn!
Danh ông nổi như cồn
Tiếng nói ông hùng hồn
Đụng đến ông - đừng dại!”…

Nhiệm kỳ một, rồi nhiệm kỳ hai
Khi đương chức ông là đại ca
Hạ cánh, ông thành đại gia
Nhưng không ai ghé nhà
Lũ cháu con ăn tiêu như phá
Tiền, vàng, đô la…
Quăng tung tóe nhanh hơn quét lá
Đất, biệt thự, xe hơi
Chặng cuối đời đành rao bán

“Của thiên trả địa” - không sai!
Ông cười vẹo mép
Một mình ông,
          khuôn viên biệt thư như bãi tha ma
Cổng mở toang, hàng xóm chẳng thèm qua
Ông ngồi một mình
Rưng rưng nhớ thời mải mê quy hoạch
Suốt đời đua chen ngõ ngách
                     nay trắng tay…

 B.V.B

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

> BẤM CHUYỂN KÊNH

Phố tôi có bà Tư Thiều trong CLB tử tù Côn Đảo. Xưa nay, bà ham đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, nhất là chương trình thời sự và các kỳ họp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội… Sau đó bà thường tỏ ra hứng khởi thuật lại và bình phẩm cho mọi người nghe các cuộc chất vấn, trả lời chất vấn.
     Ây thế mà, tối hôm qua, khi màn hình đưa tin Quốc hội tiếp tục thảo luận về phòng chống tham nhũng, bà lắc đầu rồi chuyển kênh khác xem.
     Thấy vậy, tôi hỏi:
-        Chị này, sao lâu nay chị khoái xem Quốc hội họp, mà sao hôm nay vừa thấy mấy ông nghị, bà nghị trên màn hình là chị chuyển kênh khác?
-        Không muốn tổn thọ.
-        Là sao?
-        Là cho yên cái đầu, dzơ dzẩn không khéo bị chạm thần kinh. Chán lắm rồi, lâu nay mình bị các ổng, các bả đánh lừa, hô khẩu hiệu chan chát, làm cái gì cũng nhát, phát biểu như như hát, gặp muốn cho cái tát…
  Rồi bà nói:
- Nghe nhiều lần cũng dzậy à! Xem phim hoạt hình, vidoclip hài, hoặc VTV2 nói về dịc heo dịch gà còn hay hơn các chả phát biểu. Nói mà con nít nó nghe, đang uống dở ngụm nước bỗng nó cũng phát sặc. Hứ, họp với hành, chỉ tổ mất công, tốn tiền nhà nước, dân lại phả bóp mồm bóp miệng nuôi béo các chả. Ngồi chễm chệ trên ghế đó mà đầu óc nhỏ như con tép.

- Hôm qua bà nghe-nhìn, thấy thế nào mà nay tỏ thái độ dứt khoát như thế?
          Bà Tư lại lắc đầu, chép miệng, tỏ ra rất khó chịu:
- Chú coi, phát biểu như bà nghị Võ Thị Dung thị Túng liệu có lọt lỗ tai không? Bả nói: “Đối với cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước, những ai đã lỡ tham nhũng thì xin nhân dân, Quốc hội, Chính phủ tha thứ xem xét để không hồi tố nhưng đồng thời kêu gọi sự tự giác, xử sự sao cho có đạo lý với tài sản bất minh có được”.  Rồi, tưởng im mồm cho thiên hạ được chút nhờ, ai ngờ bà ấy cong cớn lên, cứ như bả đang bị ai nhập đồng: “498 đại biểu và toàn bộ thành viên của chính phủ sẽ tuyên hứa trước quốc dân đồng bào kể từ nay sẽ quyết tâm cao để hành động quyết liệt, đây lùi tham nhũng có hiệu quả và bản thân mỗi đại biểu, mỗi thành viên chính phủ sẽ không bao giờ phạm vào tội tham nhũng”.
Tôi cười phá lên, mà lòng đau. Bà Tư Thiều đưa ngón tay ngang hai lỗ mũi:
-        Thúi không thể ngửi được. Đấy, chú xem, nói dzậy mà cũng nhảy vào làm dân biểu, “nghị xỉ”. Nay thấy các ổng các bả nói chú cũng chuyển kênh khác cho tui. Đừng nghe, không khéo lại lây phải cái thứ bệnh tâm thần, mang vi rút vidalu như họ đấy!
-        Vi rút vidalu? Sao nghe lạ quá chị?
-        Là cái thứ gây ra chứng viêm đầu lưỡi đó. Ngu, tham, dối trá, gian manh ba xạo nữa. Mà đã là ông-bà nghị rồi, đi họp chẳng lẽ không phát biểu? Phải chườn cái mặt lên cho oai chút chứ, còn miệng thì do biến chứng từ vi rút vidalu, ngứa lắm, không nhảy lên đăng đàn, khéo phát điên! Từ nay, thấy cái cảnh đó, tui bấm chuyển kênh ngay, nghe nhiều phát nhàm rồi, chả giải quyết được gì đâu.

BVB