Translate

Trang BVB1

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

> LÃO XẨM VỈA HÈ

Đền Đức Vua (Thái Bình)
  *  Minh Diện
                Lão ngồi ngay hè phố, dưới gốc cây bàng, đầu đội mũ cối, mặc bộ quân phục Thu Đông cũ nhàu, bạc phếch. Một chân lão cụt đến bẹn, lão trùm ống quần xuống cố giấu đi, không muốn người ta thương hại mình, bàn chân còn lại khẳng khiu như nhánh củi khô, đặt trên má phách.
               Khuôn mặt lão dài ngoẵng, gồ ghề như một cục đá không đẽo gọt, cái trán vát nhô lên bướng bỉnh tương phản với cái  cằm nhọn hoắt, nhìn tướng lão rất dữ dằn, duy có đôi mắt ánh lên vẻ tinh anh và nhân hậu. Chiều cuối thu se se lạnh, những chiếc lá bàng trên cây  lả tả rơi xuống mặt đắt khô hanh, tiếng trống hội từ đền Đức Vua văng vẳng vọng ra lúc khoan lúc nhặt. Sao trong đó hội hè đình đám đông vui lão không  hát, lại  lê la ra cái hè phố huyện vắng vẻ hắt hiu này? Nghe tôi hỏi, một gã sồn sồn, mặt rỗ như tổ ong, đang chờ nghe hát, trợn mắt nhìn tôi  hỏi trống không:
                - Mới ở trên trời rơi xuống à?
                - Tôi ở miền Namra !
                Nghe tôi đáp nhũn, gã dịu mặt xuống:
                - Muốn vào trong đó phải có tiển, hiểu chưa? Từ cung cấm đến góc sân, bờ hồ, gốc đa, chúng nó đều chia lô ra bán, đéo có tiền thì đừng đặt đít.  
                -  Mỗi lô bao nhiêu tiền?
                - Cũng tùy. Chỗ hầu bóng trước cửa Vua Cha mười triệu một giá đồng; chỗ hầu bóng trước cửa ông Hoàng Mười, là tám triệu; chỗ bà Chúa Đại Ngàn, năm triệu; chỗ rút xăm xin quẻ, một triệu một ngày; chỗ coi bài tây, chỉ tay, trong miếu Bạch Hổ Linh Thần tám trăm; chỗ viết sớ thuê, năm trăm một ngày; chỗ bán nhang đèn, mười triệu một tháng. Bét nhất là chỗ ngồi ăn xin  một trăm ngàn một ngày.
               Tôi ngạc nhiên thốt lên:
               -  Ăn xin cũng phải mua chỗ ?
               -  Thượng vàng hạ cám, bán tất !
               -  Chốn tâm linh mà kinh doanh ghê nhỉ?
                 Gã mặt rỗ nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống trước mặt:
                - Đ.má! Bây giờ mả tổ chúng nó còn đào lên kinh doanh nữa là!
                 Gã ngồi xuống, cầm chiếc điếu cày, giận dữ vỗ đánh bộp vào miệng điếu cho bã thuốc văng ra, rồi véo một mồi thuốc lào to bằng quả xoan, bỏ vào nõ điếu châm lửa rít sòng sọc. Lão ngậm khói trong miệng một lúc rồi từ từ nhà ra, hai con mắt  lờ đờ, rồi nói với tôi qua làn khói thuốc:
               - Ông ở xa về đếch biết, để tôi nói cho mà nghe. Cái đền này được xếp hạng Di tích  Văn hóa đấy! Đếch cần gì cả, chúng nó mua !? Mua cái bằng ấy ngót hai trăm triệu đấy! Nhưng chúng nó thu lời gấp nghìn lần rồi. Ông  thử tính mà xem, năm chỗ hầu bóng, suốt ngày đêm không chỗ nào nghỉ, hết giá đồng này đến giá đồng khác, tháng ba mươi ngày không bỏ ngày nào. Ông nhìn bãi đậu ô tô chưa? Toàn dân Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh về đấy. Có bọn làm cả trăm hình nhân, hầu đủ ba mươi sáu giá đổng, ông thử tinh coi bao nhiêu tiền? Rồi gần chục chiếu coi bài tây, năm cửa rút săm, mười hai bàn viết sớ, hơn trăm sạp bán hương hoa, mỗi ngày hốt bao nhiêu bạc? Chỉ riêng cái bãi giũ xe mỗi ngày chúng nó cũng kiếm mươi triệu.
               - Vậy thì các cụ trông đền giàu to ?
                Gã mặt rỗ buông một câu chửi thề :
               - Các cụ húp cám! Ai cho các cụ thu mà giàu ? Các cụ chỉ được ngồi chầu rìa chỗ lên đồng, tranh nhau nhặt mấy dồng tiền lẻ. Còn là nồi cơm, mâm rượu của quan tỉnh, quan huyện hết! Thằng xã được hai bàn ngổi ghi công đức, tuy vét đĩa nhưng cũng bôn tiền.   
               - Cắc, tung tung tung, cắc !
                Lão sẩm gõ ba tiếng trống, như ra hiệu cho gã mặt rỗ đừng ba hoa nữa. Lão mặt rỗ hiểu ý, ngồi xuống châm thuốc hút.Năm sáu người vừa đến cũng rút dép kê đít, ngồi  chung quanh lão sẩm.  Những chiếc lá vàng trên cây bàng vẫn lả tả rơi, không khí buổi chiều tà nơi hè phố huyện buồn tênh. Lão sẩm e hèm, gõ tung cắc mấy cái, rồi vừa kéo nhị vừa  đạp phách,vừa hát:

                            Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
                      Sáo đẻ dười nước thì ta lấy mình
                            Bao giờ rau diếp làm đình
                      Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta
              Mình lấy ta, ta mua cho mình một cặp bánh đa
                     Nó tròn vành vạnh như là ông trăng…

              Lão mặt rỗ cất tiếng cười  khành khạch:
             - Mua nhà lầu xe hơi chứ cặp bánh đa thì nó dí lồn vào!
              Mấy người ngồi quanh cười hưởng ứng, cười rống lên. Lão sẩm không nói gì, cúi xuống lên lại dây nhị, rồi hỏi  :
              - Bây giờ muốn nghe hát gì nào?
              Tay mặt rỗ nói:
              - Hát lại cái bài hôm qua đi ! Mà này, cái mặt trận ấy là mặt trận nào nhỉ? Hình như tớ có tham gia cũng nên?
               Một tay ngồi cạnh cất tiếng cười nhạo:
              - Ô thì nung vôi đóng gạch chứ trận mạc gì?
            Lão mặt rổ đứng bật dậy, hất ngược hai vạt áo lên, chỉ vào vết sẹo dài trước ngưc:
              - Bố mày suýt mất mạng ở đó nghe con! Cái quả đồi gì ? Quên mẹ nó rồi. Mà nhớ làm đéo gì?!
 
               Lão xẩm nói:
               - Đồi đất, cao điểm 1509, bọn Trung Quốc gọi là Lão Sơn, cả  đại đội tôi chỉ còn sống sót bảy ngưởi, thế ông ở đó năm nào?
                - Lên tám nhăm, được hai tháng bị thương, về Hà Bắc điều trị rồi ra quân.
                Lão xẩm gục gặc cái đầu, rồi cất tiếng hát:

                             Ơi Đàm, ơi Chiến, ơi Sanh,
                       Bây giờ hồn cốt các anh nơi nào?
                           Na La, Thanh Thủy, điểm cao,
                     Chon von sườn Bắc hay vào Hang Dơi?
                          Lão Sơn giặc chiếm mất rồi,
                     Xác thù chất đống trên đồi “thịt băm” !
                          Máu loang đến chỗ anh nằm,
                     Hồn thiêng sông núi ngàn năm có còn ?
                           Mẹ nghèo mỏi mắt chờ con,
                     Vợ hiền ôm gối mỏi mòn canh thâu !
                             Bây giờ anh ở nơi đâu ?
                   Mẹ nghèo bạc trắng mái đấu ngóng trông !
                            Vợ anh giờ đã lấy chồng ,
                        Hai tay con bế con bồng anh ơi!
                         Những thằng ngày ấy rong chơi ,
                      Bây giờ cán bộ xe hơi nhà lầu !
                          Hồn thiêng  còn ở nơi đâu?
                   Về đây chứng kiến nỗi đau nhân quần …

              Lão xẩm nhắm tít mắt lại, đầu lắc lư, cổ nổi lên mấy đường gân sẫm. Dường như lão không hát cho người ta nghe, mà lão hát cho chính lão nghe, tất cả tâm chí lão quay về quá khứ, về với những sười núi bị pháo bầy pháo đàn của Trung Quốc nã liên tục ngày đêm, hết ngày này sang ngày khác biến thành vôi, những quả đồi xác chết chồng chất, anh em gọi là đồi “thịt băm”, “cối xay thịt”, những trận đánh giáp lá cà trong thung lũng Tây sông Lô, về với  những người bạn ba tháng giữ chốt không tắm gộii, tóc trùm kín cổ áo, những thương binh, tử sỹ bị bọ dòi rúc trong vết thương…
          Lão nhả từng câu, từng chữ đắng cay, mặn chát, như máu từ trong tim lão  rì ra, từng giọt, từng giọt. Nghe lão hát  tim tôi run lên, nước mắt tự nhiên ứa ra. Những người chung tôi đều im lặng. Gã rỗ chống một đầu chiếc điếu cày xuống đất, một đầu tỳ vào cằm , mồi thuốc gã đã bỏ vào nõ điếu nhưng gã không châm lửa hút, mải chăm chú nghe hát, mắt gã lim dim, nhìn hiền, không hung dữ như nãy. Khi lão sẩm hát xong, gã thọc bàn tay trai sần vào túi quần, móc  ra tờ giấy năm ngàn nhàu nát, vuốt phẳng rồi đưa cho lão sẩm. Xong lão mới châm mồi thuốc rít một hơi dài. Mấy người làm theo gã mặt rỗ, người năm ngàn, người ba ngàn, tất cả được khoảng hai chục ngàn bạc. Lão sầm xếp những đồng tiền bố thí gọn ghẽ vào chiếc bị cói bên cạnh chiếc trống.
            Chiều thu se lạnh, lão sẩm ngồi nhai chiếc bánh mỳ , mấy lần  lão ngước  nhìn tôi, rồi cúi xuống vừa nhai vừa nghĩ ngợi.
          Tôi cứ ngờ ngợ, như đã gặp lão ở đâu rồi, nhưng không nhớ ra. Bỗng lão hỏi tôi:

        - Này, tôi nhìn ông quen quen! Hỏi khí không phải, có phải ông là Diện học lớp bốn thầy Quỳnh?
           Tôi ối lên một tiếng. Trời ơi, nhớ ra rồi, đây chính là thằng Ruỹnh thò lò mũi. Tôi nắm tay lão :
          - Ruỹnh phải không? Đúng thằng Ruỹnh đây rồi !
           Hơn năm mươi năm trước, tôi với Ruỹnh cùng học lớp bốn trường làng. Đó là ngôi nhà ngói năm gian, đội cải cách ruộng đất tịch thu của địa chủ, làm trường học. Ngôi nhà rộng rãi, mát mẻ, có hàng cột lim nhẵn bóng, sân lát gạch bát tràng, rợp bóng mít. Giờ ra chơi, chúng tôi bẻ “dái mít” chấm muối ăn, chát khé cổ. Ngày ấy không có bàn ghế, mỗi đứa một mảnh gỗ hình chữ nhật, ghép bốn  chân như cái bàn bán kẹo kéo , nhiều khi viết chính tả, tỳ tay mạnh, bàn đổ chỏng gọng, mực dây hết sách vở. Thầy Quỳnh dạy lớp ba và lớp bốn. Thầy nhỏ nhắn, mặt trái soan, trắng trẻo như mặt con gái, nhưng rất nghiêm , chiếc roi mây trong tay thầy hay quất thằng Ruỹnh vì cái chứng thò lò mũi xanh.  
           Hết lớp bốn tôi lên cấp hai,cập ba, học trên phố huyện Quỳnh Côi, Ruỹnh học trường công nông ở Vũ Hạ, không gặp nhau từ đấy.
           - Mấy chục năm qua đi những đâu?  Tôi hỏi Ruỹnh. Ruỹnh cười buồn:
          - Chuyện dài, vào uống nước đi!
           Chúng tôi vào quán nước bên đường. Bà chủ quán quen Ruỹnh, niềm nở  pha một bình trà Thái Nguyên. Quỹnh nhin tôi:
              - Cũng bạc đầu rồi nhỉ?
             - Hơn sáu chục rồi còn gì!
            Ruỹnh nói :
             - Ông  ở miền Nam lâu mà vẫn nói giọng Bắc?
 Tôi cười, đọc mấy câu thơ của Hạ Tri Chương:

                               Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi
                               Hương âm vô cải mấn mao thôi
                               Nhi đồng tương kiến bất tương thức
                               Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.


Núi Đất (Thanh Thủy - Hà Giang),
nơi Trung Quốc đặt tên là Lão Sơn

                Ruỹnh chép miệng, thở dài:
               - Thời gian trôi nhanh thật! Ông có còn nhớ bà Từ Rung không?
               - Từ Rung nào?
              - Cái bà nhỏ bé như cái tăm , miệng nhai trầu, cả làng ai cũng xa lánh ấy?
                Tôi nhớ ra rồi. Đó là người đàn bà không có chồng con, sống cô đơn trong căn bếp trường học, ngày ngày quảy đôi quang gánh, tay cầm chiếc kẹp tre, đi khắp làng trên xóm dưới, gắp từng bãi cứt chó, về đổ vào một cái hố  góc vườn, lấy tro phủ lên, chờ khi phân ải bán cho  người trồng thuốc lào. Cả làng khinh bà, gọi là “mụ gắp cứt chó”, chỉ mỗi  thầy giáo Quỳnh thương bà, thầy nói với chúng tôi: “ không có bà Từ Rung, thì cứt chó dây lên tận đầu mấy người cũng nên”, thầy nhờ bà nấu cơm cho thầy ăn ngày hai bữa vì quê thấy tận Kiến Xương.
             - Bà Từ Rung bây giờ đâu rồi? Tôi hòi Ruỹnh . Quỹnh đáp giọng đắng ngắt:
              - Chết rồi! Có mỗi thằng con nuôi, hy sinh ờ Vị Xuyên, giờ chả có ai thờ cúng !
             - Còn ông thế nào mà giờ  đi hát sẩm ?
             Ruỹnh uống một ngum trà, lơ đãng nhìn ra ngoài đường, lúc lâu mới lên tiếng. Tôi không ngờ chạm vào nỗi đau của người bạn học lúc thiếu thời.
              Sau khi tốt nghiệp cấp ba, Ruỹnh học đại học địa chất, tốt nghiệp, bị gọi vào lính, năm 1972 đi B. Trước khi đi cưới vợ là cô Mùi, phó bí thư xã đoàn. Ngày miền Namgiải phóng, Ruỹnh về phép, gặp mẹ, gặp vợ, gặp thằng con trai lên ba. Nhưng vừa bước chân đường, gặp ai người ta cũng tủm tỉm cười, rồi có người úp mở hỏi : “ biết gì chưa”. Mùi vợ Ruỹnh tỏ ra ngượng ngập. Ruỹnh hỏi mẹ, lúc đầu bà dấu, sau nói thật, là thằng Công-tên đứa bé- không phải con Ruỹnh. Ruỹnh cưới vợ tháng giêng, đi B tháng hai bảy hai, tháng giêng baỷ ba Mùi mới sinh con, dân làng bảo: “ Cô Mùi chửa trâu”. Lúc đầu Mùi lấp liếm, chối đây đẩy, rằng quan hệ với Ruỹnh trước khi cưới, nhưng thằng bé mỗi ngày một nhớn, cái mặt cái mũi nó giống Cang, bí thư đảng ủy như lột, nên Mùi phải thừa nhận ngủ với Cang, vì Cang hứa  cho  vào đảng ủy, làm bí thư xã đoàn .
           Nghe mẹ kể, mặt Ruỹnh nóng bừng như bị xát ớt. Ruỹnh mặc quân phục, đeo quân hàm thiếu úy chỉnh tề, đến thẳng nhà  Cang, bây giờ đã là phó chủ tịch huyện, phụ trách thương binh xã hội. Hôm ấy chủ nhật, Cang mời mấy người bạn thân cơ quan về nhà mình liên hoan.  Bàn tiệc  bày giữa sân, la liệt thịt gà, thịt vịt, những bát tiết canh đỏ tươi, cạnh những chén rượu sủi tăm. Ruỹnh đến lúc mọi người đang  nâng cốc mời nhau, tiếng cười nói rôm rả. Sự xuất hiện đột ngột của Ruỹnh làm gián đoạn cuộc vui, Cang khó chiu. Mọi người không ai quen Ruỹnh. Cang cũng không nhận ra người trai làng ra trận mấy năm trước để người vợ mới cưới được đúng ba ngày ở nhà. Cang tưởng tay thiếu úy này tìm đến nhà mình xin xỏ chế độ chính sách gì đây, nên sẵng giọng:
                - Muốn  hỏi chế độ chính sách thì mai lên huyện!
             Ruỹnh hỏi:
                 - Ông  nhân ra tôi  không?
             Cang ngó mặt Ruỹnh, lắc đầu:
                - Không , mình không biết cậu !
               Ruỹnh nhích mép cười:
                - Còn nhớ cô Mùi không?
                 Mặt Cang tái đi, miệng nói cứng:
               - Mùi nào nhỉ?
                - Cô Mùi phó bí thư xã đoàn ?
Cang nói :
           - Anh nhầm rồi, tôi rất trong sáng!
                Ruỹnh cười gằn:
           - Tôi chưa hỏi ông đã khai rồi! Vậy là tôi không nhầm!
              Mấy người trong bàn tiệc buông đũa đứng dậy, vây chung quanh Ruỹnh, bênh Cang. Cang được thế, giải thích:
             - Các đổng chí ạ, anh này người cùng làng, mới đi bộ đội về, đòi hỏi chính sách đãi ngô, tôi chưa giải quyết, đến nhà tôi hăm dọa vu khống!
             Ruỹnh quát:
            - Câm cái miệng nói láo! Tôi không đến đây đòi hỏi chế độ, mà đến hỏi tôi ông!
             Ruỹnh quay sang những người đứng vây quanh nói rành rọt:
            - Chúng tôi sống chết ở mặt trận, với niềm tin sắt đá, ở hậu phương mẹ mình, vợ mình sẽ được tôn trọng, được bảo vệ, tương lai của bản thân mình và nhân dân sẽ hạnh phúc. Không ngờ, hậu phương lại có những kẻ như ông Cang, lấy cấp chức làm mồi nhử, cướp hạnh phúc của chúng tôi, làm hoen ố thanh danh của đảng.
              Cang gầm lên ngắt lời Ruỹnh:
              - Cút ngay, thằng vu khống!
              Thằng em Cang từ trong nhà chạy ra chủi :
              - Đ. mẹ thằng nào đến quấy rối anh tao?
              Tay hắn cầm con dao nhọn, Cang hùng hổ  giật lấy vung vẩy tiến về phía Ruỹnh. Ruỹnh lùi đến chân tường, Cang vẫn xông tới, Ruỹnh rút súng, và tiếng nổ chói tai vang lên, Cang khuỵu xuống, rống lên như con lợn bị chọc tiết.
             Cả làng, cả xã, cả huyện xôn xao chuyện thiếu úy Ruỹnh bắn phó chủ tịch huyện. Mùi bế con về nhà mẹ đẻ rồi vào Đắc Lak, Ruỹnh về đơn vị, báo cáo hết sự việc sảy ra, bị kỷ luật hạ một cấp và được điều lên biên giới phía Bắc.
 
    Tìm thấy hài cốt liệt sĩ Dương Quốc Huy
(Tĩnh Gia, Thanh Hóa), lễ an táng
đưa vào nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên
 
             Tôi hỏi Ruỹnh bị thương trận nào, Ruỹnh kể:
            - Trận hai tám tháng tư tám tư, trên cao điểm 1200. Bọn Tàu pháo kích  suốt đêm, đến mờ sáng thì cho bộ binh chia làm hai mũi tiến lên cao điểm. Một mũi theo bờ Tây sông Lô, một mũi men theo sườn núi. Chúng chủ quan, tưởng pháo đã đè bẹp hoàn toàn sức đề pháng của ta rồi, nên dàn hàng ngang như chỗ không người. Chúng không ngờ bên ta đào hàm ếch trong vách núi, ít tổn thất, nên  cho chúng ăn no đòn. Trong thung lũng xác lính Tàu chết chồng lên nhau, máu ngập mắt cá chân. Cao điểm 1200, lúc chúng cụm vào đông như kiến, pháo ta rót xuống rất chính xác. Trận chiến đấu kéo dài suốt từ tờ mờ sáng đến năm giờ chiều bọn Tàu mới chiếm được cao điểm. Tôi bị thương ở gần làng Na La khi đang rút. Thằng Chiến con bà Từ Rung hy sinh ở đó…
            Có tiếng chuông điện thoại di động, Ruỹnh nói với ai đó:
           - Mày  đến quán nước bà Nhạn gặp tao!
            Chúng tôi tiếp tục trò truyện. Ruỹnh kể, sau khi bị kỷ luật, phải đi chăn bò, rồi chiến tranh nổ ra, lao vào đánh nhau, chưa kịp lấy vợ khác thì bị thương cụt chân, rồi mẹ chết, buồn, chán, kinh tế khó khăn quá, không lấy vợ nữa…
             Một thanh niên chạy xe máy tới, nhìn qua cũng biết là thợ xây. Ruỹnh hỏi:
            - Hai gói xi nữa  đủ không?
            - Phải ba gói?
            - Thế thì đếch đủ tiền !
             Ruỹnh mở cái bị đựng tiền bố thí đếm được hai chục ngàn, moi túi quần ra một mớ toàn tiền lẻ, đếm được một trăm, tổng cộng được trăm hai chục ngàn. Ruỹnh anh thợ xây:
             - Ba gói xi bao nhiêu?
             - Bảy chục một gói, ba gói hai trăm mốt!
             - Mày nói cừa hàng, cho tao nợ chín chục, mai kia tao trả. Lấy xi về làm cho xong đi.
             Anh thợ xây cầm tiền vâng dạ lên xe chạy. Tôi hỏi Ruỹnh:
             - Sửa nhà à?
               Ruỹnh đáp:
              - Nhà cửa gì đâu, xây cái mộ cho bà Từ Rung. Bà ấy chết mười năm rồi, tôi mới sang tiểu, bây giờ  xây mộ.
             Tôi hỏi:
             - Tưởng bà ấy có một con duy nhất hy sinh, là bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhà nước lo ?
              Ruỹnh cười buồn:
              - Người ta đòi giấy khai sinh, giấy chứng nhận hộ tịch hộ tiếc lôi thôi lắm. Bà Từ Rung đi gặp cứt chó, thấy thắng Chiến đỏ hon hỏn, cạnh đống cứt, nhặt về nuôi, làm đếch gì có giấy tờ?
             Hè phố bên kia đã có mấy người í ới gọi Ruỹnh sang hát . Ruỹnh nói với tôi:
            - Đằng ấy còn ở nhà, tối tớ lại nói chuyện tiếp. Bây giờ tớ phải đi hát kiếm  mấy đồng trả tiền xi đã.
              Nói xong Ruỹnh chống nạng thấm thách qua đường, bà bán nước nòi với tôi:
              - Chú ấy đi hát sẩm khắp nơi, kiếm được đồng nào  làm từ thiên và cho mẹ liệt sỹ đồng ấy, chú ấy chỉ ăn ngày một khúc bánh mì chay, khổ thế!
                                                                 Đồi "thịt băm"
              Tôi ngồi quán nước , nghe tiếng nhị , tiếng phách, và tiếng hát của Ruỹnh ở bên kia đường:

                                  Đây tiền vay ODA
                         Đây tiền công trái đấy là thuế thân
                            Đều là xương máu nhân dân
                        Nay dân tín nhiệm giao thần Pờ-Mu
                             Mong thần tính toán chỉn chu
                        Đừng quen cái thói quá mù ra mưa...
 
                             Thần Pờ-Mu cúi đầu thưa
                     Chúng con xin quyết làm vừa lòng trên
                                  "Gốc có vững ,cây mới bền"...
                         Pờ-Mu đã biết phải nên làm gì
                               Đầu tiên là mở sổ chi
                       Cho các quan nhất, quan nhì, quan tam,...
                                  Thứ hai là xếp chỗ làm
                     Con cháu quan nhất quan tam quan nhì
                                Thứ ba là rải đường đi
                          Cũng phân lớn bé nhất nhì ba tư
                                Bé thì tiền bỏ bao thư
                         Lớn thì nhà đất xe dư biếu xài...
 
                             Dưới trên không sót một ai
                     Pờ- Mu ngất nghểu trong ngoài đều êm
                            Mặc cho cầu sập đường rêm
                         Tiền chi dự án đội lên mấy lần
                            Nantre thay thép công trình
                      Xi măng mác thấp biến thành mác cao
                           Nhựa đường trộn lẫn bùn ao
                         Nhà thầu to nhỏ thi nhau rút tiền
 
                               Phố này biệt thự moc lên
                        Phố kia hoành tráng mặt tiền vi- la
                             Công ty gần, trang trại xa
                           Đường dự án mở xe ra xe vào
                                Vợ già đổi lấy gái bao
                            Cô tặng xe xịn, cô trao nhà lầu
                                 Tiền dư cá độ túc cầu
                         Đô la mấy triệu thua đau cóc cần
                            Thương thay ông chủ nhân dân
                          Gặp bọn đầy tớ là thần Pờ-Mu

           Hình như Ruỹnh đang hát về một vụ tiêu cực nào đấy thì phải.Tôi bỗng cảm thấy day dứt vì câu nói của Ruỹnh lúc nãy: “Tớ phải đi hát kiếm mấy đồng trả tiền gói xi”. Ôi một kỹ sư, thương binh, hơn sáu chục tuổi không vợ con, không của cải, lòng đau đáu nhớ thương những người bạn đã ngã xuống trên biên cương Tổ Quốc, ngày ngày đi hát rong ở hè phố kiếm tiền làm từ thiện và xây nấm mộ cho bà mẹ liệt sỹ. Bên cạnh đó lại có những kẻ “đầy tớ dân” lập nhóm lập phe lợi ích, tham lạm hàng chục hàng trăm nghìn tỷ đồng,sống như đế vương. Sự bất công ấy quằn quại trong mỗi câu hát của bạn tôi, người hát sẩm hè phố.
      MD

>.Bộ trưởng "Tình Chái" bày Ma Trận

          * Đào Tuấn
                         Trước Quốc hội ngày hôm qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ khiến cử tri và nhân dân lạc vào “ma trận” khi tung ra hàng loạt những thuật ngữ kiểu “tỷ lệ động viên thuế phí”, rồi “ngân sách”, rồi “% GDP”.
               Thưa Bộ trưởng, cả nước chỉ có hơn 24 ngàn tiến sĩ, mà cũng không phải tất cả đều là tiến sĩ kinh tế để có thể hiểu được điều ông nói.
                Tóm lại, ý Bộ trưởng muốn nói thuế phí ở Việt Nam không phải cao gấp từ 1,4 đến 3 lần khu vực như báo cáo của Ủy ban Kinh tế. Bởi các nước chỉ tính thuế trên ngân sách TƯ, trong khi ở ta, tính tất, cả từ việc bán tài nguyên là dầu thô, đất đai, lẫn viện trợ.
                Những con số mà Bộ trưởng thậm chí dùng “GDP” để nói, thật ra khiến người dân mù tịt. Và đã mù tịt thì làm sao có thể thuyết phục được họ tin. Nhưng dường như việc sử dụng “thuật ngữ ma trận” không hoàn toàn tình cờ. Bởi khi khẳng định thuế phí ở Việt Nam chỉ ở mức trung bình so với thế giới và khu vực, thì Bộ trưởng lại “quên” không so sánh thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam so với thế giới và khu vực.
                Cách đây chưa lâu, đề tài khoa học cấp nhà nước do Đại học Kinh tế quốc dân thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đã chỉ ra một thực tế: GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia. Còn Còn theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Nhưng không chỉ những con số đang cho thấy sự “trời vực” về thu nhập giữa người dân Việt Nam so với khu vực, châu Á, và thế giới mà chất lượng sống của người Việt Nam cũng đang bị đánh giá là “suy giảm” và “có nguy cơ tụt lại phía sau” so với các nước.
                Sự “suy giảm”, “tụt lại phía sau” biểu hiện ngay trong chính thứ mà Bộ trưởng Huệ cũng đã sử dụng ngày hôm qua “giá thế giới”. Cụ thể hơn, trong khi thu nhập và chất lượng sống thấp thì các giá cả hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam đang được tính toán và so sánh nhằm hướng tới “hội nhập” với giá cả thế giới. Chẳng hạn như giá xăng, thứ giá mà Việt Nam đang hướng và quản lý “theo giá thế giới”- như khẳng định của Bộ trưởng Huệ. Hoặc giá điện “thấp hơn giá thế giới” mà vài hôm nữa, thế nào Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng sẽ kêu than.
               Sự suy giảm và tụt lại về mặt thu nhập và đời sống, so với mức thuế phí được thanh minh là “trung bình so với thế giới và khu vực” đang cho thấy tư duy trong việc hoạch định các chính sách liên quan đến thuế phí là rất thiếu công bằng với đời sống người dân. Không nói đâu xa, khi quyết định số tiền lương tăng thêm 100 ngàn (mà cũng chỉ cho 8 triệu đối tượng) thì Bộ Tài chính cũng quyết thu đúng 100 ngàn theo kiểu “bổ đầu” đối với hơn 40 triệu chiếc xe máy, thực ra là đôi chân, là chiếc cần câu cơm của dân chúng. Thậm chí, xe đạp điện cũng không được tha.
               Người dân sẵn sàng chia sẽ khó khăn với ngân sách nhà nước. Nhưng dứt khoát đó không phải là từ việc tư lệnh ngành tài chính đưa ra một thứ “ma trận” để cử tri và nhân dân thực lạc vào đó mà không biết đầu cua tai nheo thế nào. Lại càng không thể chỉ nói đến chuyện “nộp” như thế là chưa nhiều, mà không quan tâm đến việc họ “có” bao nhiêu trong túi, và những đồng tiền kiếm bằng mồ hôi nước mắt đó có đủ đảm bảo cuộc sống tối thiểu hay không.
--------------------------->
           <  Theo blog ĐT  >  < (Đầu đề là của BVB)---

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

> NHÂN DÂN

 
     * NGUYỄN TRỌNG TẠO
Có thể thay quan,
                 không thay được Nhân Dân
Thay tên nước,
                không thể thay Tổ Quốc!

Nhưng sự thật khó tin mà có thật
Không thể thay quan - dù quan đã thành sâu!
Quan thành dòi đục khoét cả đất đai
Vòi bạch tuộc đã ăn dần biển đảo

Đêm nằm mơ thấy biển Đông hộc máu
Những oan hồn xô dạt tận Thủ Đô
Những oan hồn chỉ còn bộ xương khô
Đi lũ lượt, đi tràn ra đại lộ


Những oan hồn vỡ đầu gãy cổ
Ôm lá cờ rách nát vẫn còn đi
Đi qua hàng rào, đi qua những đoàn xe
Đi qua nắng đi qua mưa đi qua đêm đi qua bão

Những oan hồn không sức gì cản nổi
Đi đòi lại niềm tin, đi đòi lại cuộc đời
Đòi lại những ông quan thanh liêm đã chết tự lâu rồi
Đòi lại ánh mặt trời cho tái sinh vạn vật…

Tôi tỉnh dậy thấy mặt tràn nước mắt
Nước mắt của Nhân Dân mặn chát rót vào tôi.
Ôi những ông quan không Dân trên chót vót đỉnh trời
Có nhận ra tôi đang kêu gào dưới đáy

Cả một tỷ tôi sao ông không nhìn thấy?
Vì tôi vẫn là người mà ông đã là sâu!…

10.2012
----------------------------
 
>> Tham khảo:
               Theo BVB: Ai cũng vậy, nhất là báo chí, tuyên truyền, đừng nghĩ cách lừa dân> Bài viết, phim, ảnh...về nhân dân phải chuẩn, khỏi cần chỉnh. Báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 2-9-2011, đăng bài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gôc" của PGS.TS Bùi Đình Phong. Đọc, xem lướt thôi, đã thấy bài bao snày có hai hạt sạn to nhất:
1- Đúng nghĩa phải là "Lấy dân làm gốc", nhưng lại cái đầu đề bài báo lại "lấy dân gôc". Làm gốc - là vua quan, cán bộ đảng viên, hệ thống chính trị phải biết dựa vào dân, lấy sức mạnh đoàn kết toàn dân làm nền tảng, sự vũng chãi, nơi đem sự sống nuôi cây, giữ cho cây được đứng vững. Còn thay từ 'làm' , thành 'là" - dễ bị hiểu ra là coi dân như gốc như gác, như rác như rơm, đồ bỏ, không biết gì, (vd - "tao nói mày có nghe không mà cứ ngồi lỳ như cái gốc khô mục thế?")... "Gốc có vững cây mới bền / Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (HCM)... Chứ không phải như quan tham hiện nay: "Gốc mặc kệ, chỉ cây với tiền /  Xây lầu, chiếm đất trên nền nhân dân". .
 
2- Cái sai thứ hai là đưa lên tấm ảnh và chú thích sai:
- Tấm ảnh này hình như đã phát hành cả hơn nửa thế kỷ nay rồi. Ảnh Bác Hồ cùng nông dân tát nước chống hạn. Nhưng khi đưa ảnh đi kèm bài viết này, với dòng chú thích lại thêm giải thích dài ngoằng mà thiếu tính thuyết phục: "Với tư tưởng lấy dân làm gốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gần gũi với nhân dân, tham gia nhiều hoạt động cùng nhân dân". Cái chú thích này được  có từ "làm" được dùng chuẩn hơn đầu bài.
               Còn tấm ảnh này thực sự mới nhìn qua đã là dàn dựng. Nông dân từng tát gầu giai nhìn cái ảnh này người ta sẽ rất buồn cười. Ai là nông dân hoặc đã nhìn người nông dân tát gầu giai (có 4 cái dây, hai người đứng đói diện nhau mới tát nước được) đều khẳng định là tấm ảnh bị dàn dựng đáng tiếc. Mà không hiểu sao lúc đó Bác Hồ lại để cho chụp, hơi lạ. Nếu ai không tin, nên hỏi nhữnq nông dân thành thạo việc đồng áng, từng tát gầu giai, nhất là các lão nông tri điền.
            Tát nước bằng gầu giai không phải như vậy! Rất dễ nhận ra, sau khi gầu đã vục nước, hai người cần phối hợp nhịp nhàng để đổ nước lên. Ta luy, cái triền bờ chỉ cao vừa phải mới đổ hắt nước lên được. Vậy, với ảnh này, bờ cao như thế có giống ngoài đời nông dân tát nước hay không? Bờ quá cao, sức ai mà đổ nước vượt bờ được? Hơn nữa, cán bộ đi theo Bác đứng chật cả trên bờ, hắt nước vào mặt người ta à?
 
 
         "Với tư tưởng lấy dân làm gốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
           thường gần gũi với nhân dân, tham gia nhiều
                         hoạt động cùng nhân dân"
 
             Chú thích ảnh là "tham gia nhiều hoạt động cùng nhân dân", nhưng nhìn trong ảnh chỉ thấy toàn cán bộ mặc áo trắng toát, không thấy dân.
             Tôi đã nhiều lần thấy tấm ảnh này rồi, cũng chưa biết ai là tác giả, chụp ở đâu? (Có  lẽ dàn dựng chụp vào ngày 12-1-1958, khi Bác đi thăm thôn Quang Tó, xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thanh trì, Hà Nội). Thế mà có nhiều báo lại bình phẩm, khen ngợi tám ảnh vô lý này! Nay đọc bài thơ Nhân Dân của Nguyễn Trọng Tạo mới "tập cận bình" về tấm ảnh này để mọi người cùng chia sẻ, tham khảo thêm.
           Cảnh này thấy cảnh tát nước không tự nhiên. Tuy vậy, Bác Hồ đứng còn có thế hơn, còn người cùng tát nước với Bác đứng như vậy lấy thế đâu mà giật gầu nước lên? Khi nước đầy gầu chỉ có mà té úp mặt xuông hố.
           Ảnh tư liệu đã có nhiều ảnh chụp cảnh Bác Hồ  ra ruộng, thăm đồng, thăm lúa, ngồi bờ ruộng mặc áo nâu nói chuyện với nông dân, ảnh và phim Bác Hồ đang đạp guồng nước rất tự nhiên...Đâu có thiếu ảnh mà phải dàn dựng? Hóa ra, ca ngợi Bác mà thành "bôi bác"; tuyên truyền mà bị phản tuyên truyền. Theo chỗ cảm nhận như vậy, tôi thấy ảnh này không nên đăng trên truyền thông, công luận.
(BVB)
 ---------------------------->
 
 


> COC - chả là ‘CÁI CÓC GÌ’ đối với Trung Quốc

Hội nghị Thượng đỉnh các nước ASEAN
                                                                         Bùi Văn Bồng   
              Mấy ngày qua, dư luận tại các nước ASEAN và trên thế giới quan tâm đến vấn đề Biển Đông, nhất là sắp có một “Bộ quy tắc ứng xử COC”.

              Cách đây hơn 10 năm, từ đầu năm 2002, các nước ASEAN đã thống nhất với nhau đưa ra Tuyên bố DOC. Hơn 10 năm qua, dù tỏ thái độ không tán thành, muốn kéo rê thời gian, chần chừ mãi, Trung Quốc mới chịu ký bản thỏa thuận DOC. Do nhiều yếu tố liên quan đến thực trạng trong nước và mối quan hệ quốc tế vào thời điểm đó, buộc Trung Quốc phải ký như để “cho xong chuyện”. Nhưng ngay sau đó, Trung Quốc lại tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra, vẫn lờ tịt như chưa hề có DOC.

              Trung Quốc gia tăng các hoạt động xâm lấn, gây tranh chấp trên vùng biển-đảo thuộc chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam và các nước trong khu vực. Vậy là các nước ASEAN lại thấy sự ràng buộc pháp lý của DOC hầu như còn nhiều khiếm khuyết, chưa có những quy tắc ứng xử mang tính chất ràng buộc về mặt pháp lý ở mức cao.  Trong khi đó, Trung Quốc lại đang tìm cách cố tình  né tránh các điều ràng buộc về pháp lý, tức là né tránh những căn cứ pháp lý do Việt Nam và các nước đưa ra mà không có lợi cho phía Trung Quốc.
Trong các Hội nghị, diễn đàn cấp cao ASEAN, một chủ đề mà các lãnh đạo mong muốn là thúc đẩy sớm để tiến hành trao đổi một cách chính thức về COC giữa ASEAN và Trung Quốc. Đây không chỉ là trao đổi giữa ASEAN và Trung Quốc mà các nước ngoài khu vực cũng mong muốn các bên đạt được đồng thuận vào đi vào thảo luận xây dựng Bộ quy tắc ứng xử này vì COC sẽ đóng góp cho hòa bình, ổn định ở khu vực nhưng cũng tác động đến các nước.
Sự né tránh rõ nhất là tại hai Hội nghị Thượng đỉnh và Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN từ đầu năm đến nay tại Cam-pu-chia. Ngay từ Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 hồi tháng 4-2012, Trung Quốc đã dùng nhiều thủ đoạn, kể cả dùng tiền “động viên” Cam-phu-chia để ông Hun Sen không đưa vấn đề Biển Đông vào Chương trình nghị sự. Thái độ của Trung Quốc và Cam-pu-chia - nước chủ nhà với vai trò đương nhiệm Chủ tịch ASEAN - đã gây sốc đối với các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông và việc thống nhất nội dung, các bước soạn thảo, đi đến ký kết COC.
Đến nay các nước trong ASEAN vẫn mong muốn  Trung Quốc chấp nhận và có thái độ đàng hoàng nhằm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC có tính chất pháp lý ràng buộc cao hơn, nói cách khác là đưa ra những biện pháp tốt hơn để đảm bảo duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực, ở Biển Đông. Nhưng đây là vấn đề sẽ vấp phải nhiều khó khăn, ách tắc, không hề dễ dàng mà có được sự đồng thuận của Trung Quốc với các nước ASEAN. Bởi ai còn lạ gì Trung Quốc với bản chất bành trướng, tham lam, cái gì có lợi nhất cho mình thì Trung Quốc mới chấp nhận. Các nước ASEAN còn thông qua Bộ quy tắc ứng xử COC để đưa ra những biện pháp tốt hơn nhằm bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực, nhất là an ninh ổn định trên Biển Đông.
Thực chất, tính chất pháp lý ràng buộc chính là mục tiêu của COC. Khiếm khuyết của DOC là ra đời từ 2002 nhưng phải 9 năm sau mới thống nhất với nhau về các nguyên tắc hướng dẫn thực thi. Vì thế tiến tới COC phải làm sao để khi đưa ra là có thể thực hiện được ngay. Điểm mới chính là ở tính chất pháp lý của nó cao hơn và có các cơ chế đảm bảo Bộ quy tắc ứng xử được thực hiện, nếu nước nào cố tình vi phạm cũng có biện pháp xử lý. Biện pháp của ai? Với các nước ASEAN thì Trung Quốc vốn coi họ là “tép riu”, chẳng thể làm gì được đâu. 
            Việt Namlà điều phối viên trong 3 năm qua giữa ASEAN và Trung Quốc. Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò, đưa ra thống nhất được trong các nước ASEAN về những nguyên tắc, thành tố cơ bản để đi đến COC. Bên hành lang Quốc hội ngày 31-10, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định rằng: Các nước ASEAN đã thống nhất các thành tố cơ bản của Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên trên biển Đông để đàm phán với Trung Quốc.
Bộ trưởng Pham Bình Minh cũng thẳng thắn nêu lên  rằng: Đây là thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc nên phải được cả ASEAN và Trung Quốc đồng ý để cùng đi vào thỏa thuận. Nhưng quan trọng nhất là các nước ASEAN phải thống nhất được với nhau về những nguyên tắc, thống nhất thành tố cơ bản của COC. Còn với Trung Quốc là “câu chuyện của đàm phán, diễn biến của thương lượng”. Đến nay, cơ bản các nước ASEAN đã thống nhất vấn đề này. Tuy nhiên, mong muốn đàm phán với Trung Quốc trong năm nay là kỳ vọng lớn nhưng chắc khó đạt được.
Theo ông Phạm Bình Minh: Các nước ASEAN đã thống nhất với nhau được những thành tố cơ bản của Bộ quy tắc COC, nay đi vào đàm phán để xây dựng COC. Tháng 9, ở New York (Mỹ), các ngoại trưởng ASEAN họp không chính thức thống nhất với nhau tiếp tục thúc đẩy COC và đã trao đổi với phía Trung Quốc. Trung Quốc đã đồng ý là có thể bắt đầu tham khảo không chính thức về vấn đề này và hy vọng rằng chúng ta sẽ có được sự trao đổi chính thức giữa ASEAN và Trung Quốc.
Cái cách nói lấp lửng, thiếu dứt khóat, không thiện chí của Trung Quốc rõ ràng là thái độ phản ứng với COC ngay từ khi các nước ASEAN chưa đưa COC ra để Trung Quốc cùng ký, rằng: “TQ có thể tham khảo không chính thức…”.
Ông Minh nói: “DOC, COC không phải nguyên lý để giải quyết tranh chấp về chủ quyền hoặc về một hòn đảo nào. COC tiến tới bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực để các bên cùng cam kết không gây ra xung đột, đánh chiếm, chiếm đóng, chứ không phải cơ chế giải quyết chủ quyền, lãnh thổ.Vấn đề Biển Đông, COC, DOC là đa phương. Chúng ta tuyên bố những vấn đề gì chỉ liên quan đến hai nước, giữa hai nước thì tự xử lý theo nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Còn vấn đề Biển Đông liên quan đến nhiều nước, tranh chấp ở Trường Sa liên quan nhiều nước thì phải đa phương”.
Nếu nói như ông Bộ trưởng Phạm Bình Minh thì COC cũng “cóc” giải quyết được gì cho căn cơ, bài bản và quả nhiên là ít hiệu lực. Bởi vì cả DOC và COC “không phải là nguyên lý để giải quyết tranh chấp về chủ quyền”, vậy thì làm sao có “hòa bình, ổn định?”. Hơn nữa, ngay trong dự thảo COC cũng không bóc tách, phân dịnh rõ ràng đâu là đa phương, cái nào là song phương?
 Vì thế, phải nhìn nhận rằng, nếu đem COC ra “xin chữ ký” của Trung Quốc thì rất nhiều khả năng Trung Quốc sẽ “hùng hồn” ném ra những nghịch lý và cả sự ngang ngược để đủ trò bắt bẻ nhiều nội dung quan trọng có tính ràng buộc pháp lý, qua đó lợi dụng cơ hội này Trung Quốc sẽ không bỏ qua những thủ đoạn đưa ra sức ép mới với các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông. Mà cho dẫu lần này Trung Quốc có ký COC thì cũng như 10 năm trước đã đặt bút ký thỏa thuận DOC, rất khó có thể tin rằng qua đây, với COC cộng lực cùng DOC,  tình hình an ninh cho Biển Đông và khu vực sẽ sáng sủa hơn. Với Trung Quốc thì cho dù  DOC, COC rồi còn các thứ văn bản pháp lý, ký kết, thỏa thuận, quy tắc, quy định gì khác do ASEAN đưa ra thì trong con mắt giới cầm quyền Trung Nam Hải chỉ là mớ văn bản rẻ tiền, cũng chỉ nằm trên giấy mà thôi. Hơn 10 năm trước đã có DOC không là gì với Trung Quốc, nay thêm COC nữa thì cũng không bằng thể bằng CNOOC - Công ty dầu khí của Trung Quốc - đang vươn dài những vòi bạch tuộc hút các mỏ dầu đã khoanh vào cái "Lưỡi Bò" cực đại trên Biển Đông. Tóm lại là: COC chả là cái “cóc gì” đối với Trung Quốc!
B.V.B
------------------------------------------------------------------

> BÀ GIÀ ĐI KHIẾU KIỆN

    * Bùi Văn Bồng                                                                

 
Bà già ngồi bên hè phố
Ôm khư khư bó đơn khiếu kiện
Mắt nhòe nhoẹt
           choáng ngợp đường xe
Và móc tiền lẻ …
                    đếm...
Đếm thời gian cuộc đời đi và đến
Đếm những cháu con côi cút nối đời
Đếm những bão giông, lũ tràn mùa vụ
Đếm những bước chân quân đi, quân về
Đếm những loạt pháo rụng rời đêm xóm ấp
Đếm những cháu con hy sinh vì nước
Đếm từng bông lúa củ khoai
Đếm từng vuông đất thừa tự
Đếm những lo buồn trăn trở
Đếm tình thương và nỗi nhớ
Đếm tất bật chợ phiên chợ chiều
Đếm những cái nhìn vô cảm hoặc lạnh tanh
Đếm công sở cả chục năm vác đơn khiếu kiện…
Lợi quyền - mong ước cả đời
Lợi quyền - đấu tranh và thề thốt
Lợi quyền - nước mắt, mồ hôi
Và nữa, lợi quyền - máu ai đã đổ…
Chân lý với công bằng
Lợi quyền và lẽ phải
Minh bạch và ngang trái...
Cả những tất bật cuối đời sinh nhai
Bà đếm, và lại đếm…
Chất chồng oan khuất
Băng bật dân chủ, văn minh
Mất đất, trắng tay côi cút một mình
Ai cùng lo và ai thấu hiểu?
Trái tim già hóa đá
Lá vàng rơi phố lạ
 
 
Trong khung cửa những cao ốc văn phòng kia
Trên những tozota bóng loáng kính màu
Và cả dòng xe vội vù trên phố
Có ai biết
Bà đang nhặt nắng chiều sưởi ấm cuối thu
Bà ngồi đếm và chăm nuôi hy vọng
Đếm cả những kiên tâm cuối đời !
-----------------

> Tướng Vĩnh gửi thư cho con gái

     * Nguyễn Trọng Vĩnh
Con yêu quý,
              Nhận được điện của con, biết con và cháu vẫn khỏe mạnh, việc làm vẫn ổn định, bố vui. Còn tình hình ở nhà vẫn bình thường, bố vẫn khỏe, chú thím, các chị vẫn được bình thường. Xa quê lâu, con hỏi mọi thứ về tình hình đất nước, có lẽ thư này bố phải viết dài lắm đấy.

 
      Cũng có nhiều thay đổi: Đường sá, cầu cống được xây dựng khá, đi từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau không còn phải qua phà nào, nhiều khu đô thị mới được xây dựng, thành phố, thị xã đâu cũng thấy nhà cao tầng san sát, trụ sở cơ quan hoành tráng, nhìn chung thì cũng cho là đất nước có thay da đổi thịt, nhiều bãi biển, khu du lịch được chỉnh trang, thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
            Nhờ xuất khẩu được nông sản nhiều như gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su, cá tôm, v.v. đóng góp cho nền tài chính nước nhà đáng kể. Ngoài ra cũng chỉ có ngành du lịch và khai thác dầu khí là có đóng góp. Da giày, may mặc tuy cũng xuất khẩu được nhiều nhưng phụ thuộc về nguyên vật liệu nước ngoài, chủ yếu là ta gia công nên thu lãi chả được bao nhiêu.

             Trên đây tạm gọi là mặt phát triển, mặt được. Còn ra, nhìn vào thực tế đất nước thì còn lắm vấn đề, tình hình mọi mặt ngày càng xấu đi, chủ yếu từ mươi năm lại đây.
             Công nghiệp phát triển chậm, hàng hóa nước ngoài tràn vào lũng đoạn thị trường, chủ yếu là hàng Trung Quốc. Hàng vài chục ngàn doanh nghiệp phá sản. Nhập siêu hàng năm hơn chục tỷ USD; rừng mất, mỏ mất, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng.
             Nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước do Thủ tướng trực tiếp quản lý, chỉ đạo làm ăn thua lỗ, chủ yếu là Vinashin, Vinalines, thất thoát của nhà nước hàng trăm ngàn tỷ đồng; nợ xấu ngân hàng rất lớn, lạm phát cao làm tiền mất giá quá. Với một nước dân số gần 90 triệu mà dự trữ ngoại tệ quốc gia vài chục tỷ thì có nghĩa gì, trong khi đó thì nợ nước ngoài chồng chất. Ngân khố nhà nước không có tiền để tăng lương cho công nhân, viên chức! Về giáo dục thì không đào tạo được nhân tài, học vị không được nước ngoài công nhận, không đào tạo được nguồn lực có kỹ thuật, học sinh không được giáo dục đạo đức, đa số không biết sử của nước ta; Đại học tạo ra lớp người dở thầy, dở thợ ra trường khó kiếm được công ăn việc làm.
             Con đã đọc báo nước ngoài nói về dân chủ dân quyền Việt Nam rồi mà con còn hỏi bố ư? Đúng là báo chí nước ngoài họ nói không sai mấy đâu. Chỉ có cấm và cấm thôi: cấm biểu tình yêu nước, cấm tụ tập đông người (từ 5 người trở lên), cấm dân oan không được khiếu kiện tập thể, cấm công nhân đình công, cấm trí thức phản biện, cấm báo tư nhân, cấm trang mạng Quan làm báo, Dân làm báo, mạng Biển Đông, cấm người quá tuổi không được ứng cử Quốc hội, cấm đảng viên không được tự do ứng cử Quốc hội, ngay cái quyền được bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân Quận, Huyện, Phường cũng sẽ mất nốt, vì người ta sắp bỏ Hội đồng nhân dân mấy cấp ấy để các ông Chủ tịch rộng quyền độc tài, độc đoán, không ai còn giám sát, chất vấn. Thời gian vừa qua, những nông dân bị cưỡng chế còn chịu đòn của công an là chuyện bình thường, muốn bắt ai thì bắt bất chấp pháp luật, có người bắt rồi thả, có người bắt rồi bỏ tù, nói ra quan điểm của mình cũng có thể bị buộc tội chống nhà nước, v.v.
           Còn tình hình xã hội thì sao? Tham nhũng, buôn lậu, mại dâm tha hồ phát triển. Thất nghiệp tăng nhiều, do doanh nghiệp phá sản mà thất nghiệp, nông dân do mất đất mà thất nghiệp, do hàng vạn lao động phổ thông Trung Quốc tự do tràn vào tranh công việc của người lao động nước ta… Tai nạn giao thông hàng năm chết cả vạn người, mê tín dị đoan phát triển, trộm cướp giết người hoành hành, mỗi ngày ít cũng có dăm bảy vụ, luân thường đạo lý đảo ngược: học trò đánh thầy, vợ giết chồng, chồng giết vợ, anh em tranh đất giết nhau, con nghiện xin tiền không được đánh mẹ, con chiếm nhà đuổi cha mẹ ra đường…
           Về đời sống nhân dân ư? Chỉ những người giàu, những kẻ tham nhũng, những người nắm chức quyền là sống ung dung thừa mứa, còn thì tiền viện phí, tiền thuốc tăng, xăng dầu tăng, tiền điện tiền nước tăng, lạm phát cao, tiền mất giá, giá lương thực thực phẩm tăng hàng ngày, lớp người trung lưu phải thắt lưng buộc bụng, người thất nghiệp, người thu nhập thấp thì khổ, người nghèo thì kêu trời.
          Có người bào chữa rằng tình hình kinh tế xã hội Việt Nam sa sút như thế là có nguyên nhân kinh tế thế giới suy thoái. Nhưng cũng trong bối cảnh thế giới như thế sao các nước xung quanh ta như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, v.v. vẫn phát triển, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, kể cả Trung Quốc phát triển vượt bậc bỏ lại nước ta tụt hậu quá xa, tồi tệ như thế này?!
          Ở các nước, nếu Thủ tướng mắc sai lầm điều hành đất nước suy thoái tồi tệ như thế thì Thủ tướng đã phải từ chức hoặc miễn nhiệm rồi. Còn ở nước ta, trong hơn một nhiệm kỳ quản lý, điều hành mà mọi mặt xã hội chuyển xấu, kinh tế suy kiệt, tài sản nhà nước thất thoát nghiêm trọng mà Thủ tướng chỉ xin nhận trách nhiệm và xin lỗi là xong!
            Con lại hỏi bố về quan hệ với Trung Quốc nữa ư?
             Năm 1974 họ đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của chúng ta, năm 1979 họ huy động 60 vạn quân xâm lược ta, giết hại đồng bào ta và tàn phá 4 tỉnh biên giới của ta thì con đã biết rồi.
            Từ sau khi lập lại quan hệ bình thường, họ nêu phương châm “16 chữ” và “4 tốt”, chỉ có phía ta thực hiện, họ có thực hiện đâu! Mỗi lần gặp gỡ với lãnh đạo của ta, lãnh đạo họ nói “kiên trì thực hiện phương châm 16 chữ” và nói rất nhiều điều “thân thiện”, “hữu nghị”, nhưng hành động của họ thì ngược lại. Ký kết về biên giới, họ chiếm của ta mất ½ thác Bản Giốc (Cao Bằng), đẩy ta từ Hữu Nghị Quan (ải Nam Quan xưa) xuống chợ Tân Thanh, lấn của ta mất đất bằng một tỉnh Thái Bình.
          Trên biển, họ tuyên bố chủ quyền gần hết biển Đông, bắt tàu cá, cướp ngư cụ, bắn giết ngư dân ta, phá cáp các tàu thăm dò của ta trong lãnh hải và thềm lục địa của ta, thành lập trái phép cái gọi là huyện Tam Sa, bao cả quần đảo Trường Sa của ta mà họ muốn nốt, lập căn cứ quân sự ở đó, thường xuyên uy hiếp ta, Hoàn cầu thời báo của họ thỉnh thoảng lại chửi bới Việt Nam ta, và đe dọa đánh, gần đây lại nghĩ ra thủ đoạn “đặt tên” cho hàng trăm bãi đá không người quanh vùng Trường Sa, hòng khẳng định chủ quyền của họ. Mới nhất là ngày 24 - 10 - 2012, tàu cá của ông Hoàng Văn Phúc ở Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn) đương đánh bắt cá ở biển Đông thì bị một “tàu lạ” đâm vỡ rồi bỏ chạy làm 10 ngư dân suýt chết đuối. Chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán của giới cầm quyền Trung Quốc đối với nước ta là như thế đấy con ạ. Đáng hận chưa?
          Con hỏi nhiều quá, bố viết đến đây dài lắm rồi, thôi nhé.
          Chúc hai mẹ con con khỏe, vui.
Hà Nội, 30-10-2012
Bố
N.T.V
(Tác giả gửi trực tiếp cho BVN)
---------------

> Tướng Vĩnh gửi thư cho con gái

     * Nguyễn Trọng Vĩnh
Con yêu quý,
              Nhận được điện của con, biết con và cháu vẫn khỏe mạnh, việc làm vẫn ổn định, bố vui. Còn tình hình ở nhà vẫn bình thường, bố vẫn khỏe, chú thím, các chị vẫn được bình thường. Xa quê lâu, con hỏi mọi thứ về tình hình đất nước, có lẽ thư này bố phải viết dài lắm đấy.

 
      Cũng có nhiều thay đổi: Đường sá, cầu cống được xây dựng khá, đi từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau không còn phải qua phà nào, nhiều khu đô thị mới được xây dựng, thành phố, thị xã đâu cũng thấy nhà cao tầng san sát, trụ sở cơ quan hoành tráng, nhìn chung thì cũng cho là đất nước có thay da đổi thịt, nhiều bãi biển, khu du lịch được chỉnh trang, thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
            Nhờ xuất khẩu được nông sản nhiều như gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su, cá tôm, v.v. đóng góp cho nền tài chính nước nhà đáng kể. Ngoài ra cũng chỉ có ngành du lịch và khai thác dầu khí là có đóng góp. Da giày, may mặc tuy cũng xuất khẩu được nhiều nhưng phụ thuộc về nguyên vật liệu nước ngoài, chủ yếu là ta gia công nên thu lãi chả được bao nhiêu.

             Trên đây tạm gọi là mặt phát triển, mặt được. Còn ra, nhìn vào thực tế đất nước thì còn lắm vấn đề, tình hình mọi mặt ngày càng xấu đi, chủ yếu từ mươi năm lại đây.
             Công nghiệp phát triển chậm, hàng hóa nước ngoài tràn vào lũng đoạn thị trường, chủ yếu là hàng Trung Quốc. Hàng vài chục ngàn doanh nghiệp phá sản. Nhập siêu hàng năm hơn chục tỷ USD; rừng mất, mỏ mất, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng.
             Nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước do Thủ tướng trực tiếp quản lý, chỉ đạo làm ăn thua lỗ, chủ yếu là Vinashin, Vinalines, thất thoát của nhà nước hàng trăm ngàn tỷ đồng; nợ xấu ngân hàng rất lớn, lạm phát cao làm tiền mất giá quá. Với một nước dân số gần 90 triệu mà dự trữ ngoại tệ quốc gia vài chục tỷ thì có nghĩa gì, trong khi đó thì nợ nước ngoài chồng chất. Ngân khố nhà nước không có tiền để tăng lương cho công nhân, viên chức! Về giáo dục thì không đào tạo được nhân tài, học vị không được nước ngoài công nhận, không đào tạo được nguồn lực có kỹ thuật, học sinh không được giáo dục đạo đức, đa số không biết sử của nước ta; Đại học tạo ra lớp người dở thầy, dở thợ ra trường khó kiếm được công ăn việc làm.
             Con đã đọc báo nước ngoài nói về dân chủ dân quyền Việt Nam rồi mà con còn hỏi bố ư? Đúng là báo chí nước ngoài họ nói không sai mấy đâu. Chỉ có cấm và cấm thôi: cấm biểu tình yêu nước, cấm tụ tập đông người (từ 5 người trở lên), cấm dân oan không được khiếu kiện tập thể, cấm công nhân đình công, cấm trí thức phản biện, cấm báo tư nhân, cấm trang mạng Quan làm báo, Dân làm báo, mạng Biển Đông, cấm người quá tuổi không được ứng cử Quốc hội, cấm đảng viên không được tự do ứng cử Quốc hội, ngay cái quyền được bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân Quận, Huyện, Phường cũng sẽ mất nốt, vì người ta sắp bỏ Hội đồng nhân dân mấy cấp ấy để các ông Chủ tịch rộng quyền độc tài, độc đoán, không ai còn giám sát, chất vấn. Thời gian vừa qua, những nông dân bị cưỡng chế còn chịu đòn của công an là chuyện bình thường, muốn bắt ai thì bắt bất chấp pháp luật, có người bắt rồi thả, có người bắt rồi bỏ tù, nói ra quan điểm của mình cũng có thể bị buộc tội chống nhà nước, v.v.
           Còn tình hình xã hội thì sao? Tham nhũng, buôn lậu, mại dâm tha hồ phát triển. Thất nghiệp tăng nhiều, do doanh nghiệp phá sản mà thất nghiệp, nông dân do mất đất mà thất nghiệp, do hàng vạn lao động phổ thông Trung Quốc tự do tràn vào tranh công việc của người lao động nước ta… Tai nạn giao thông hàng năm chết cả vạn người, mê tín dị đoan phát triển, trộm cướp giết người hoành hành, mỗi ngày ít cũng có dăm bảy vụ, luân thường đạo lý đảo ngược: học trò đánh thầy, vợ giết chồng, chồng giết vợ, anh em tranh đất giết nhau, con nghiện xin tiền không được đánh mẹ, con chiếm nhà đuổi cha mẹ ra đường…
           Về đời sống nhân dân ư? Chỉ những người giàu, những kẻ tham nhũng, những người nắm chức quyền là sống ung dung thừa mứa, còn thì tiền viện phí, tiền thuốc tăng, xăng dầu tăng, tiền điện tiền nước tăng, lạm phát cao, tiền mất giá, giá lương thực thực phẩm tăng hàng ngày, lớp người trung lưu phải thắt lưng buộc bụng, người thất nghiệp, người thu nhập thấp thì khổ, người nghèo thì kêu trời.
          Có người bào chữa rằng tình hình kinh tế xã hội Việt Nam sa sút như thế là có nguyên nhân kinh tế thế giới suy thoái. Nhưng cũng trong bối cảnh thế giới như thế sao các nước xung quanh ta như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, v.v. vẫn phát triển, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, kể cả Trung Quốc phát triển vượt bậc bỏ lại nước ta tụt hậu quá xa, tồi tệ như thế này?!
          Ở các nước, nếu Thủ tướng mắc sai lầm điều hành đất nước suy thoái tồi tệ như thế thì Thủ tướng đã phải từ chức hoặc miễn nhiệm rồi. Còn ở nước ta, trong hơn một nhiệm kỳ quản lý, điều hành mà mọi mặt xã hội chuyển xấu, kinh tế suy kiệt, tài sản nhà nước thất thoát nghiêm trọng mà Thủ tướng chỉ xin nhận trách nhiệm và xin lỗi là xong!
            Con lại hỏi bố về quan hệ với Trung Quốc nữa ư?
             Năm 1974 họ đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của chúng ta, năm 1979 họ huy động 60 vạn quân xâm lược ta, giết hại đồng bào ta và tàn phá 4 tỉnh biên giới của ta thì con đã biết rồi.
            Từ sau khi lập lại quan hệ bình thường, họ nêu phương châm “16 chữ” và “4 tốt”, chỉ có phía ta thực hiện, họ có thực hiện đâu! Mỗi lần gặp gỡ với lãnh đạo của ta, lãnh đạo họ nói “kiên trì thực hiện phương châm 16 chữ” và nói rất nhiều điều “thân thiện”, “hữu nghị”, nhưng hành động của họ thì ngược lại. Ký kết về biên giới, họ chiếm của ta mất ½ thác Bản Giốc (Cao Bằng), đẩy ta từ Hữu Nghị Quan (ải Nam Quan xưa) xuống chợ Tân Thanh, lấn của ta mất đất bằng một tỉnh Thái Bình.
          Trên biển, họ tuyên bố chủ quyền gần hết biển Đông, bắt tàu cá, cướp ngư cụ, bắn giết ngư dân ta, phá cáp các tàu thăm dò của ta trong lãnh hải và thềm lục địa của ta, thành lập trái phép cái gọi là huyện Tam Sa, bao cả quần đảo Trường Sa của ta mà họ muốn nốt, lập căn cứ quân sự ở đó, thường xuyên uy hiếp ta, Hoàn cầu thời báo của họ thỉnh thoảng lại chửi bới Việt Nam ta, và đe dọa đánh, gần đây lại nghĩ ra thủ đoạn “đặt tên” cho hàng trăm bãi đá không người quanh vùng Trường Sa, hòng khẳng định chủ quyền của họ. Mới nhất là ngày 24 - 10 - 2012, tàu cá của ông Hoàng Văn Phúc ở Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn) đương đánh bắt cá ở biển Đông thì bị một “tàu lạ” đâm vỡ rồi bỏ chạy làm 10 ngư dân suýt chết đuối. Chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán của giới cầm quyền Trung Quốc đối với nước ta là như thế đấy con ạ. Đáng hận chưa?
          Con hỏi nhiều quá, bố viết đến đây dài lắm rồi, thôi nhé.
          Chúc hai mẹ con con khỏe, vui.
Hà Nội, 30-10-2012
Bố
N.T.V
(Tác giả gửi trực tiếp cho BVN)
---------------

> CŨNG LÀ “TRI THIÊN MỆNH”

           * Bùi Văn Bồng
        Mới rồi, tôi có dịp trao đổi, nhàn đàm với hai người bạn đồng môn, cùng tổ học tập ở Đại học Tổng hợp Văn - Hà Nội năm xưa. Nay họ đều là giáo sư, tiến sĩ.
                Một anh nói:
- Suốt đời đi theo Đảng, nay với Đảng, mình phải làm thế nào cho phải nhỉ?
Tôi hỏi:
 - Nói gì, chưa hiểu?
            Anh bạn chặc lưỡi, lắc đầu, gãi tai, một lúc sau mới nói:
      - Thì ý mình là còn mấy tháng nữa sẽ nghỉ hưu. Đang băn khoăn xin ra khỏi Đảng hay là hồ sơ chuyển Đảng về nơi cư trú thì cứ để đấy, xin thôi không sinh hoạt Đảng nữa? Cái “chất” của Đảng ta xưa khác, nay khác. Mình vào Đảng cũng hơi sớm, 40 năm tuổi Đảng rồi. Thấy Đảng ta đầu tiên là lý tưởng, đến đi sâu quá rồi sa đà vào lý luận, do rất lơ mơ coi nhẹ thực tiễn mà mắc bệnh quan liêu, nay thì chỉ thấy lý sự và lý cùn, nhiều vị cũng không hơn Lý Toét...
            Lắc đầu:
       - Ngồi sinh hoạt chi bộ thấy mình là đảng viên mà thấp cổ bé họng, họp chi bộ trong bối cảnh này cũng chẳng để làm gì. Quả thực có nhiều đảng viên phàn nàn là nói không ai nghe, mọi lời góp ý cứ bị trôi tuột. Riết rồi không biết nói cái gì nữa. Vào họp chi bộ ngồi im, hết cuộc về, bí thư chi bộ thích nói cái gì thì nói. Ví dụ, những điều đảng viên bức xúc, nhưng kiến nghị chẳng ai nghe. Hôm rồi, việc triển khai tự phê và phê được chuẩn bị khá kỹ, nói là phải nghiêm khắc, quyết liệt, không dung hòa, không thả hiệp…Rồi “tắm, gội cái đầu trước, làm từ trên xuống, nhưng rồi chẳng đi đến đâu. Hừ, vẫn là nói không đi đôi với làm, nói hay, làm dở ẹt. Bí thư chi bộ phổ biến cho tất cả các đảng viên: “Hội nghị Trung ương 6 thành công tốt đẹp. Phải nói thế, phát ngôn ra dân cũng phải nói vậy, nói khác là không đúng với tinh thần đảng viên”(?!). Không biết cái “tinh thần đảng viên” mà ông ta nói là gì? Là phải tiếp tục sống theo cái nếp quen tự dối lòng mình và dối cả với dân à?
               Anh bạn kia nói:
           - Tôi cũng nhớ, hôm kết nạp Đảng cách đây 40 năm, giơ tay tuyên thệ, thuộc lòng các nhiệm vụ, điều lệ, nguyên tắc. Trên bàn thờ Tổ quốc có cờ Đảng, cờ nước, ảnh Bác và câu khẩu hiệu đỏ chói: “Suốt đời hy sinh phân đấu cho lý tưởng cộng sản”. Thì đó, thề là làm, gương mẫu, trong sạch, liêm khiết, chuyên tâm lo cho công việc Đảng, nhà nước giao. Nay coi như suốt đời cống hiến rồi đó. Thấy tình trạng suy thoái toàn diện của “bộ phận không nhỏ” trong đảng hiện nay mà thấy không còn biết tin vào đâu được! Buồn. Chán! Cái lý tưởng mà mình đã suốt đời theo đuổi, nay lai phải bàn đến kế sách, sửa luật thế nào để "người cày có ruộng". Khẩu hiệu này Đảng đã nêu ra tư khi thành lập Đảng hơn 82 năm rồi, gần cả thế kỷ mà vẫn phải ta đấu tranh với chính ta để  để "người cày có ruộng". Nông dân bị mất đất nhiều quá, lại cũng xảy ra đàn áp, trấn dẹp, ức hiếp người dân. Rồi đấu tranh cho mọi công dân được sống tự do, công bằng, dân chủ...Đúng là sự phấn đấu kiên trì, không mệt mỏi. Thế thì biết luận giải thế nào?
       Lúc sau, anh ta lại nói:
           - Cũng thấm cuộc đời rồi. Sinh ra phải thời loạn lạc, chiến tranh liên miên; lớn lên gặp chặng gian nan; nghỉ hưu thấy đời lắm chuyện dở, gàn.
Nghe hai anh bạn nói vậy, tôi cũng tham gia:
- Tôi có chơi thân với nhà thơ Nguyễn Hoài Nhơn. Anh ta sinh 1956, tuổi Thân, nay cũng sang kỳ xế bóng rồi. Tôi thích cái chất sâu xa mà hóm trong thơ Nguyễn Hoài Nhơn. Hôm rồi, đọc bài cảm tác trong tập thơ “Tự biết” của Nhơn, cũng lý giải “Ngũ thập niên”, xem ra cũng là hợp với lẽ của đạo Khổng: “Ngũ thập tri thiên mệnh”, tức là người 50 tuổi mới biết được mệnh trời. Cái tự biết của người đã từng đi nhiều nơi, trải biến nhiều gian nan, khốn khó, vào sinh ra tử, nay hầu như đã quá đủ để chiêm nghiệm và cũng đủ để chưng cất thành thơ: “Tôi chống ngọn bút bi như chống cuốc/ Toát mồ hôi khi nhìn lại những sá cày/ Con chữ thôi miên lần hồi thơ phú/ Bưng bát cơm, vơi quá nửa đắng cay”.
     Anh bạn sắp nghỉ hưu nói:
-  Nói chung, cái truyền thống chưa ai đúc kết, kiểm chứng mức độ, nhưng đã từ lâu lắm rồi Đảng ta lấy vũ khí phê-tự phê để mà “tự xử”, mới rồi thấy nhiều việc "tự xử", ai dám cãi? Chuyện nghỉ hưu có chuyển Đảng về chi bộ cơ sở để sinh hoạt tiếp hay không sẽ tính tiếp, mình là đảng viên cũng có quyền “tự xử” chứ! Khỏi cần hỏi ý kiến ý cọ của  ai, khỏi phụ thuộc mấy ông tổ chức-tổ tôm-tổ rối  nào hết. Tiếp tục sinh hoạt Đảng hay bỏ sinh hoạt? Ra khỏi Đảng hay để hồ sơ làm kỷ niệm một đời theo Đảng đến mức sẵn sàng quên thân, gian truân, căng óc một đời cống hiến thì tùy mình. Đúng thế, tự nguyện xin vào Đảng, nay lại "tự xử", tức là tự mình làm cách nào mà thấy hồ hởi nhất, thanh thản nhất, khỏi dính dáng phiền toái nhất, có thể cười vô tư như thỏ!...
           Ngừng một lát, nhăn cả da trán, nhíu đôi mày thưa, anh bạn tôi phất tay: "Lắm lúc tự hỏi, Đảng là ai và gồm những ai? Đảng làm gì? Mối quan hệ Đảng - Dân, Đảng và cuộc sống  xã hội như thế nào? Xưa, có thể trả lời được, nay chịu, nếu cứ rập khuôn, lý thuyết, thuộc bài mà trả lời như xưa thì trật lấc. Thôi, ta nói chuyện khác, cho nhẹ bớt cái đầu. Chuyện này nói hoài cũng chẳng đi đến đâu, không giải quyết được gì, mất công, mệt óc, thêm sinh bệnh, tổn thọ!".

B.V.B

> CŨNG LÀ “TRI THIÊN MỆNH”

           * Bùi Văn Bồng
        Mới rồi, tôi có dịp trao đổi, nhàn đàm với hai người bạn đồng môn, cùng tổ học tập ở Đại học Tổng hợp Văn - Hà Nội năm xưa. Nay họ đều là giáo sư, tiến sĩ.
                Một anh nói:
- Suốt đời đi theo Đảng, nay với Đảng, mình phải làm thế nào cho phải nhỉ?
Tôi hỏi:
 - Nói gì, chưa hiểu?
            Anh bạn chặc lưỡi, lắc đầu, gãi tai, một lúc sau mới nói:
      - Thì ý mình là còn mấy tháng nữa sẽ nghỉ hưu. Đang băn khoăn xin ra khỏi Đảng hay là hồ sơ chuyển Đảng về nơi cư trú thì cứ để đấy, xin thôi không sinh hoạt Đảng nữa? Cái “chất” của Đảng ta xưa khác, nay khác. Mình vào Đảng cũng hơi sớm, 40 năm tuổi Đảng rồi. Thấy Đảng ta đầu tiên là lý tưởng, đến đi sâu quá rồi sa đà vào lý luận, do rất lơ mơ coi nhẹ thực tiễn mà mắc bệnh quan liêu, nay thì chỉ thấy lý sự và lý cùn, nhiều vị cũng không hơn Lý Toét...
            Lắc đầu:
       - Ngồi sinh hoạt chi bộ thấy mình là đảng viên mà thấp cổ bé họng, họp chi bộ trong bối cảnh này cũng chẳng để làm gì. Quả thực có nhiều đảng viên phàn nàn là nói không ai nghe, mọi lời góp ý cứ bị trôi tuột. Riết rồi không biết nói cái gì nữa. Vào họp chi bộ ngồi im, hết cuộc về, bí thư chi bộ thích nói cái gì thì nói. Ví dụ, những điều đảng viên bức xúc, nhưng kiến nghị chẳng ai nghe. Hôm rồi, việc triển khai tự phê và phê được chuẩn bị khá kỹ, nói là phải nghiêm khắc, quyết liệt, không dung hòa, không thả hiệp…Rồi “tắm, gội cái đầu trước, làm từ trên xuống, nhưng rồi chẳng đi đến đâu. Hừ, vẫn là nói không đi đôi với làm, nói hay, làm dở ẹt. Bí thư chi bộ phổ biến cho tất cả các đảng viên: “Hội nghị Trung ương 6 thành công tốt đẹp. Phải nói thế, phát ngôn ra dân cũng phải nói vậy, nói khác là không đúng với tinh thần đảng viên”(?!). Không biết cái “tinh thần đảng viên” mà ông ta nói là gì? Là phải tiếp tục sống theo cái nếp quen tự dối lòng mình và dối cả với dân à?
               Anh bạn kia nói:
           - Tôi cũng nhớ, hôm kết nạp Đảng cách đây 40 năm, giơ tay tuyên thệ, thuộc lòng các nhiệm vụ, điều lệ, nguyên tắc. Trên bàn thờ Tổ quốc có cờ Đảng, cờ nước, ảnh Bác và câu khẩu hiệu đỏ chói: “Suốt đời hy sinh phân đấu cho lý tưởng cộng sản”. Thì đó, thề là làm, gương mẫu, trong sạch, liêm khiết, chuyên tâm lo cho công việc Đảng, nhà nước giao. Nay coi như suốt đời cống hiến rồi đó. Thấy tình trạng suy thoái toàn diện của “bộ phận không nhỏ” trong đảng hiện nay mà thấy không còn biết tin vào đâu được! Buồn. Chán! Cái lý tưởng mà mình đã suốt đời theo đuổi, nay lai phải bàn đến kế sách, sửa luật thế nào để "người cày có ruộng". Khẩu hiệu này Đảng đã nêu ra tư khi thành lập Đảng hơn 82 năm rồi, gần cả thế kỷ mà vẫn phải ta đấu tranh với chính ta để  để "người cày có ruộng". Nông dân bị mất đất nhiều quá, lại cũng xảy ra đàn áp, trấn dẹp, ức hiếp người dân. Rồi đấu tranh cho mọi công dân được sống tự do, công bằng, dân chủ...Đúng là sự phấn đấu kiên trì, không mệt mỏi. Thế thì biết luận giải thế nào?
       Lúc sau, anh ta lại nói:
           - Cũng thấm cuộc đời rồi. Sinh ra phải thời loạn lạc, chiến tranh liên miên; lớn lên gặp chặng gian nan; nghỉ hưu thấy đời lắm chuyện dở, gàn.
Nghe hai anh bạn nói vậy, tôi cũng tham gia:
- Tôi có chơi thân với nhà thơ Nguyễn Hoài Nhơn. Anh ta sinh 1956, tuổi Thân, nay cũng sang kỳ xế bóng rồi. Tôi thích cái chất sâu xa mà hóm trong thơ Nguyễn Hoài Nhơn. Hôm rồi, đọc bài cảm tác trong tập thơ “Tự biết” của Nhơn, cũng lý giải “Ngũ thập niên”, xem ra cũng là hợp với lẽ của đạo Khổng: “Ngũ thập tri thiên mệnh”, tức là người 50 tuổi mới biết được mệnh trời. Cái tự biết của người đã từng đi nhiều nơi, trải biến nhiều gian nan, khốn khó, vào sinh ra tử, nay hầu như đã quá đủ để chiêm nghiệm và cũng đủ để chưng cất thành thơ: “Tôi chống ngọn bút bi như chống cuốc/ Toát mồ hôi khi nhìn lại những sá cày/ Con chữ thôi miên lần hồi thơ phú/ Bưng bát cơm, vơi quá nửa đắng cay”.
     Anh bạn sắp nghỉ hưu nói:
-  Nói chung, cái truyền thống chưa ai đúc kết, kiểm chứng mức độ, nhưng đã từ lâu lắm rồi Đảng ta lấy vũ khí phê-tự phê để mà “tự xử”, mới rồi thấy nhiều việc "tự xử", ai dám cãi? Chuyện nghỉ hưu có chuyển Đảng về chi bộ cơ sở để sinh hoạt tiếp hay không sẽ tính tiếp, mình là đảng viên cũng có quyền “tự xử” chứ! Khỏi cần hỏi ý kiến ý cọ của  ai, khỏi phụ thuộc mấy ông tổ chức-tổ tôm-tổ rối  nào hết. Tiếp tục sinh hoạt Đảng hay bỏ sinh hoạt? Ra khỏi Đảng hay để hồ sơ làm kỷ niệm một đời theo Đảng đến mức sẵn sàng quên thân, gian truân, căng óc một đời cống hiến thì tùy mình. Đúng thế, tự nguyện xin vào Đảng, nay lại "tự xử", tức là tự mình làm cách nào mà thấy hồ hởi nhất, thanh thản nhất, khỏi dính dáng phiền toái nhất, có thể cười vô tư như thỏ!...
           Ngừng một lát, nhăn cả da trán, nhíu đôi mày thưa, anh bạn tôi phất tay: "Lắm lúc tự hỏi, Đảng là ai và gồm những ai? Đảng làm gì? Mối quan hệ Đảng - Dân, Đảng và cuộc sống  xã hội như thế nào? Xưa, có thể trả lời được, nay chịu, nếu cứ rập khuôn, lý thuyết, thuộc bài mà trả lời như xưa thì trật lấc. Thôi, ta nói chuyện khác, cho nhẹ bớt cái đầu. Chuyện này nói hoài cũng chẳng đi đến đâu, không giải quyết được gì, mất công, mệt óc, thêm sinh bệnh, tổn thọ!".

B.V.B