* TS. TÔ VĂN TRƯỜNG
Công luận vừa qua, xôn xao chuyện
Đà Nẵng dọa kiện Bộ Tài Nguyên & Môi trường về quy trình vận hành liên hồ
chứa A Vương, Đắk Mi 4 và sông Tranh 2 trên lưu vực sông Vu Gia- Thu Bồn, đặc
biệt là vấn đề xả nước của thủy điện Đắk Mi 4.
Chia sẻ, cảm thông với Đà Nẵng
vì nếu không có ý kiến sớm người ta ký rồi thì thành ra “mất bò mới lo làm chuồng”
nhưng đây mới chỉ là dự thảo mà Bộ TNMT là cơ quan tham mưu và nếu có kiện thì
phải chờ kiện người ký quyết định ban hành là Thủ tướng. Tuy vậy, Bộ TNMT cũng
phải làm tròn trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước, không được đùn đẩy
đá “quả bóng” lên Thủ tướng.
Trong
cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường gặp cụm từ " theo quy trình" bản
thân nó đã hàm chứa bao quy định thành văn và bất thành văn, thậm chí chỉ là chỉ
đạo của một vài " yếu nhân" nào đó. Xã hội cần một sự minh bạch và
công khai giải trình trách nhiệm với những "theo đúng quy trình "
này.
Chúng
ta đã hội nhập thì hãy theo những quy trình mà thế giới văn minh đang tuân thủ
nghiêm túc và hãy bỏ dần những quy trình mang đậm nét " lệ làng"
đi. Xét cho đến cùng thì cái mà chúng ta
thiếu chính là yếu tố thể chế hay " quy trình xây dựng và thực hiện các
quy trình " là một dạng tiêu chuẩn ISO xã hội.
Đối với
lĩnh vực kỹ thuật, việc xây dựng quy trình
vận hành liên hồ chứa liên quan đến bài toán lũ lụt và hạn hán để tránh
hậu quả “nhân tai” chồng lên thiên tai thì cũng phải tuân theo yêu cầu nói
trên.
Xuất xứ
Khi tiến
hành xây dựng các công trình thủy điện , Bộ Công thương phải dựa trên quy hoạch
và trên cơ sở đã tham vấn xin ý kiến các bộ ngành và địa phương liên quan. Thực
hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc xây dựng Quy trình vận hành liên hồ chứa
trên các lưu vực sông, Bộ TNMT đã chủ
trì xây dựng Quy trình vận hành liên hồ chứa các hồ A Vương, Đắk Mi 4 và Sông
Tranh 2 trong mùa lũ hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định
số 1880/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2010.
Trên cơ
sở kế thừa và đã có điều chỉnh một số nội dung quy định vận hành liên hồ chứa
các hồ A Vương, Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2 trong mùa lũ hàng năm và kết quả xây dựng các nội dung vận hành các
hồ chứa trong mùa cạn, Bộ TNMT đã biên tập thành dự thảo Quy trình vận hành
liên hồ chứa các hồ A Vương, Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2 (bao gồm cả mùa lũ và mùa
cạn) trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn.
Quan điểm của hai phía
Bộ TNMT
dựa trên phân tích liệt tài liệu về tổng lượng dòng chảy mùa cạn thuộc lưu vực
Vu Gia - Thu Bồn từ năm 1978 – 2011, khi tiến hành lập quy trình vận hành đã
nghiên cứu, phân tích các đặc điểm cụ thể của lưu vực, cân nhắc ưu tiên nhiệm vụ
bảo đảm cấp nước cho hạ du trên nhiệm vụ phát điện. Tổng lượng nước trên sông
Vu Gia đến Ái Nghĩa không chỉ có hồ Đắk Mi 4 mà còn có hồ A Vương, sông Côn 2
và trong tương lai còn có hồ Sông Bung 4, 5, 6 trên dòng sông Bung. Trong khi tổng
lượng nước đến hồ Đắk Mi 4 chỉ chiếm khoảng 26,5 % so với tổng lượng nước sông
Vu Gia đến Ái Nghĩa.
Theo đề
xuất trong quy trình vận hành mực nước thấp nhất cần được duy trì thường xuyên
tại Trạm Thủy văn Ái Nghĩa là 2,53 m, và với mực nước khống chế này thì thủy điện
Đắk Mi 4 bị thiệt hại do xả nước về sông Vu Gia trong mùa cạn dao động từ khoảng
55 triệu KWh (chiếm 6,6% so với tổng sản lượng điện hằng năm) đến tối đa khoảng
144,6 triệu KWh (chiếm 17,3%), tương ứng khoảng 55 tỉ đến 145 tỉ đồng vv...
Đà Nẵng
là nơi nằm ở hạ du, chịu nhiều tác động của các công trình thủy điện phía thượng
lưu nên phản ứng của Đà Nẵng là điều dễ hiểu. Việc khống chế mực nước tại Ái
Nghĩa ở mức 2,53 m có nghĩa là gần như Đắk Mi 4 sẽ không xả trả nước lại cho
sông Vu Gia , ngoại trừ 5 m3/s để duy trì dòng chảy trên đoạn sông “chết” từ Đắk
Mi 4 đến Bến Giằng (tỉnh Quảng Nam). Điều này là ngược với ý kiến chỉ đạo của
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Đắk Mi 4 phải trả lại nước sông Vu Gia 25
m3/s vv…
Lỗ hổng
Bức xúc
của Đà Nẵng là chính đáng nhưng có thể chưa được đầu tư nghiên cứu sâu nên những
lập luận, lý lẽ đưa ra vẫn còn nhiều hạn chế. Về khía cạnh chuyên môn, chúng
tôi nhận thấy có một số mặt tồn tại như sau:
Thứ tự
xây dựng các công trình thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn chưa tôn trọng quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn
nước của lưu vực sông, trên cơ sở phân tích khách quan yêu cầu sử dụng nước của
các ngành và khả năng có thể đáp ứng được đến đâu? Dựa vào quy hoạch sử dụng tổng
hợp nguồn nước của lưu vực sông, các ngành mới làm quy hoạch nước cho ngành
mình, nhưng lâu nay, ở ta do yếu kém của quy hoạch lưu vực sông nên vẫn “mạnh
ai, lấy làm” sử dụng nước riêng cho ngành mình, hậu quả xẩy ra có những lợi ích
cục bộ, tranh chấp cũng không có gì lạ!
Việc
chuyển nước lưu vực là một vấn đề hết sức phức tạp, trước đây ít được coi trọng
cho đến khi có luật tài nguyên nước. Tuy nhiên, mặc dù đã có luật tài nguyên nước nhưng khi đồng ý cho phép thủy điện Đắk Mi 4
được xây dựng các nhà quản lý vẫn chưa quan tâm đến 40 km hạ lưu thủy điện Đắk
Mi 4 bị cạn kiệt, không đáp ứng được yêu cầu của dòng chảy tối thiểu.
Việc
phân lưu về sông Thu Bồn qua sông Quảng Huế, trước đây chỉ khoảng hơn 20% lượng
nước sông Vu Gia vào mùa kiệt nhưng nay, sau một số biến đổi lòng dẫn do lũ lụt,
đặc biệt là sau khi nạo vét sông Quảng Huế (Viện Khoa học Thủy lợi VN thực hiện
năm 2008) lượng nước chuyển qua Quảng Huế khoảng 40% (tùy theo cao độ mực nước)
đã gây ảnh hưởng đến hạ du sông Vu Gia.
Trong
quy trình vận hành liên hồ chứa có nêu 3 trường hợp (i) Khi mực nước tại
trạm thủy văn Ái Nghĩa nhỏ hơn 2,53m là giá trị mực nước trung bình 1
tháng nhỏ nhất (ii) Khi mực nước tại trạm thủy văn Ái Nghĩa trong khoảng
từ 2,53 đến 2,67 m và (iii) Khi mực nước tại trạm thủy văn Ái Nghĩa lớn
hơn 2,67 m (giá trị mực nước trung bình 3 tháng nhỏ nhất), chủ hồ căn cứ
vào mực nước hồ và lưu lượng đến hồ để quyết định vận hành xả về sông Vu Gia.
Lập luận
lấy “ giá trị mực nước trung bình 1 tháng nhỏ nhất “ tại
Ái Nghĩa làm mục tiêu vận hành của chuỗi 33 năm từ năm 1976 đến
2008 để cấp nước là không chính xác cả về lý thuyết lẫn thực tế.
Trong
giải trình của Bộ TNMT có nêu “Tổng lượng
nước yêu cầu phục vụ cho các ngành kinh tế, sinh hoạt, dịch vụ, môi trường…
trong mùa cạn ở lưu vực Vu Gia - Thu Bồn trong khoảng 2.132 triệu
m3. Với quy định như dự thảo Quy trình, qua tính toán việc vận hành các hồ chứa
đã đảm bảo nhu cầu dùng nước cho hạ du sông Vu Gia ngay cả trong những năm ít
nước trong mùa cạn 1990, 2005 có tần suất xấp xỉ 85%. Xin lưu ý mức bảo đảm
85% là thấp, hiện nay cấp nước cho nông nghiệp đã là 85%, cho dân sinh, cho công nghiệp và môi trường
phải bảo đảm cao hơn.
Cần xem
xét bổ sung các chỉ tiêu khống chế về lưu lượng, bên cạnh chỉ tiêu mực nước. Vì
trên thực tế cho thấy vào mùa kiệt nguồn nước của nhà máy nước Cầu Đỏ những năm
gần đây thường xuyên bị nhiễm mặn, một phần cũng là do dòng chảy trên sông
không đủ để đẩy mặn. Việc này càng khẳng định vấn đề không thể chỉ sử dụng tiêu
chí mực nước để đảm bảo cấp nước cho vùng hạ du sông Vu Gia được, đặc biệt là
những năm gần đây địa hình lòng sông cũng có nhiều thay đổi. Vấn đề này cần phải
được nghiên cứu kỹ hơn và có luận cứ khoa học rõ ràng hơn.
Quy
trình vận hành cần phải được phản biện kỹ hơn nữa để tránh sai sót. Đặc biệt cần
phải tính toán mô phỏng dòng chảy trên toàn bộ hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn với
các kịch bản các công trình thượng nguồn được vận hành theo Quy trình bằng những
mô hình toán hiện đại để phát hiện ra những khiếm khuyết của Quy trình trước
khi đưa vào áp dụng. Và điều này hoàn toàn nằm trong quyền chủ động của tất cả
các bên liên quan vv...
Kiện ai?
Bộ TNMT
có chức năng nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước nhưng thiếu nguồn nhân lực chuyên
sâu, do hầu hết vẫn ở ngành thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT nên công
tác quy hoạch lưu vực sông luôn đi sau
quy hoạch các ngành dùng nước. Đó là hậu quả của “bài toán ngược” trong
công tác tổ chức.
Khi con
người tác động vào tự nhiên bao giờ cũng có được và mất, do đó phải làm sao cho
cái được là lớn nhất, cái mất là ít nhất và có chính sách, cơ chế và biện pháp bù
lỗ cho những nơi bị thiệt hại. Bộ TNMT cần cập nhật các tài liệu cơ bản mới về
kinh tế xã hội kể cả vận hành trạm bơm An Trạch, xác định rủi ro hạ du bao gồm cả lũ lụt và hạn
hán, trên cơ sở đó, mới xem xét lợi ích tổng hợp để lựa chọn mức độ rủi ro chấp
nhận được. Từ đó, mới xây dựng chế độ vận hành các hồ chứa, trong đó không chỉ
quy định các quy trình vận hành cơ bản mà còn là các ứng xử trong các hoàn cảnh
cụ thể của cả hệ thống công trình.
Trong
cuộc họp báo ngày 24/2, thứ trưởng Trần Hồng Hà
khẳng định sẽ làm tốt nhất để
không bao giờ có kiện cáo, nhưng lại đá quả bóng lên trên “Thủ tướng là người
quyết định chứ không phải Bộ Tài nguyên và Môi trường"!? Quy trình vận
hành liên hồ chứa mới ở dạng dự thảo, cần phải lắng nghe, thảo luận ý kiến trái
chiều của các bên liên quan. Nếu không có tiếng nói chung, Đà Nẵng có quyền báo
cáo thẳng lên Thủ tướng, hay gọi là “phản kháng” cũng được. Còn nếu Đà Nẵng muốn
kiện thì phải chờ kiện người sẽ phê duyệt quyết định tức là …Thủ tướng !
TVT
Cám ơn TS. TÔ VĂN TRƯỜNG về bài kiện ai. Tuy nhiên tôi nghĩ Đà Nẵng có quyền kiện ngay, kiện dự thảo ngay vì Bộ này đã ra Dự thảo gây gây xáo trộn dư luận là thuộc loại tội phạm gây bất ổn an ninh xã hội và vụ kiện sẽ thành công khi cho kẻ ăn lương Nhà nước để lừa Dư luộn và thòng Thủ Tướng. Nếu không thì người quyết định ra Dự thảo thuộc loại trình độ kém năng lực cần cho về vườn. Ký văn bản Dự thảo cũng là ký một văn bản mang tính chất phải chụi trách nhiệm pháp nhân chứ !
Trả lờiXóaTÔI MỜI CÁC BÁC CỨ KIỆN ĐI,thử xem sao nhé .Biết kết quả rồi mà vẩncứ thế, tội nghiệp không cơ chứ.Chẳng lẽ quên mất câu con kiến mà kiên củ khoai à.
XóaCứ phải chiến đấu thôi 1710 ơi! Không thấy nước ngoài người ta luôn hô: "Move! Move!" à? Nghĩa là "Nhấc đít lên! Chiến đấu đi!"
XóaDKM thằng thứ trưởng, nói như mài thì xóa sổ mẹ cài bộ thông nòng nhà mài.
Trả lờiXóaNuôi để lấy mứt còng giá trị hơn..........
Đà Nẵng phản pháo! Hay! Không thành công cũng thành danh! Tưởng cứ bắt nạt được ai là cứ bắt nạt à?!
Trả lờiXóaLọa hè?
Thủy điện thì ở đâu mà chẳng có, lợi ích của các nhà máy thủy điện và lợi ích của dân vùng hạ du là mâu thuẫn. Không bao giờ có nối thoát triệt để trong vấn đề này nhất là trong bối cảnh của nước ta hiện nay.
Trả lờiXóaChỉ có thể tự cứu lấy mình thôi. Bất luận trên con sông có bao nhiêu cái thủy điện, thì nhà máy thủy điện cuối cùng, hay hồ chứa nước cuối cùng phải bị chính quyền địa phương khống chế, và đặt lợi ích của dân hạ lưu lên trên lợi ích sản lượng điện. Trách nhiệm điều hòa nước thuộc về cq địa phương nếu xẩy ra tắc trách thì xử ngay....nếu quốc hữu hóa được thì làm , còn nếu không thì cân đối sản lượng điện quy truẩn rồi lấy thuế bà bù vào cho họ.
Không biết Huyện Đông Hưng và Tỉnh Thái Bình có khiểm tra có kiểm tra , giám sát tài sản của Ông: Lại Thành Kiên, trường Phòng Văn Hoá TT, Huyện Đông Hưng không nhỉ
Trả lờiXóa- ông Lại Thành Kiên ăn lương của nhà nước mà mua được 4 mảnh đất chưa kể nhà đang ở !
- gia đình Lại Thành Kiên 0979360138, cũng không có nghề phụ gì?
Trên Huyện, trên Tỉnh có biết không? Bà con ở Thị Trấn Đông Hưng này biết hết rồi đấy! ( EM GÁI 5 TẤN) mong các Bác Huyện, Tỉnh vào cuộc đi thôi
Giờ mới biết đòn của bạn NGƯỜI LÀM VĂN HÓA! Chơi cho Kiên nào đó mất ngủ, sống như bị ghẻ ngứa, gãi xột xoạt suốt ngày!
XóaXả đúng quê trềnh, chết cũng đúng quê trềnh (vì ngu).
Trả lờiXóaRAO KHÔNG "VẶT":
Trả lờiXóa# Cần "Mua gấp" các loại vé sô đã trúng giải Đặc Biệt mà chưa lĩnh thưởng ( số lượng không hạn chế)
# Mua giá cao hơn 3 - 5 lần trị giá thật ( có hoa hồng cho hoa hồng)
# Thanh toán nhanh, gọn, nhiệt tình, lịch sự, không ngại ở xa
ĐỊA CHỈ : Trần Văn Truyền (Nguyên Tổng Thanh Tra Chính Phủ)
Xã: Sơn Đông - Thành Phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
( Ai có thì xin liên lạc giùm , tôi xin cảm ơn và hậu tạ)
Rất đơn giản:
Trả lờiXóaChi phí sx hàng năm của NMTĐ hầu như cố định (chỉ trừ thuế TN và phí nuôi rừng) nên chỉ cần chia CPSX cho Sản lượng điện bình quân là ra giá điện mà EVN (Nhà nước) phải trả cho Nhà đầu tư. Sản lượng giảm làm cho giá thủy điện có tăng một chút nhưng còn rẻ chán so với các loại hình phát điện khác!
Thắc mắc, kiện cáo hoài làm chi cho ...mệt!