Translate

Trang BVB1

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 4 năm 2015

Đồng bằng sông Cửu Long – 40 NĂM NHÌN LẠI - Kỳ 5

* LÊ PHÚ KHẢI
(tiếp theo)
V- QUYẾT ĐỊNH 99TTG CỦA THỦ TƯỚNG 
CHÍNH PHỦ - MỘT 'CỘT MỐC' 
QUAN TRỌNG VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Một trong những mâu thuẫn lớn nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là, với một vùng kinh tế chiến lược của cả nước, có tiềm năng to lớn và toàn diện về nông sản, hàng hoá nhất về lương thực thực phẩm, nhưng trình độ phát triển lại có nhiều mặt thua kém các vùng khác trong cả nước.
Trên bước đường công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, việc hiện đại hoá và xây dựng nông thôn văn minh ở Đồng bằng sông Cửu Long chẳng những có liên quan đến đời sống của gần 20 triệu nhân dân trong vùng mà còn có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của cả đất nước. Đặc biệt là đối với vấn đề sản xuất lương thực để bảo đảm lương thực an toàn quốc gia trong bất kì tình huống nào và có dư để xuất khẩu, để đất nước yên tâm đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Nhận thức rõ vị trí đó của Đồng bằng sông Cửu Long, theo đề nghị của Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Kế hoạch và đầu tư, Tài chính…, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 99TTg ngày 9-2-1996 “Về định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm1996-2000 đối với việc phát triển thuỷ lợi, giao thông và xây dựng nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.
Với quyết định này, Nhà nước đầu tư vốn ngân sách cho sự nghiệp phát triển thuỷ lợi, dân cư và giao thông ở Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1996 đến năm 2000 là 7.100 tỷ đồng, nhân dân sẽ tham gia đóng góp 8.400 tỷ đồng. Như vậy vốn tổng hợp là 15.500 tỷ đồng. Trong ngày khai mạc Hôi nghị triển khai Quyết định 99TTg tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “Đồng bằng sông Cửu Long đi lên bằng cái gì, công nghiệp hoá bằng cái gì, thoát khỏi cái nghèo bằng cái gì, nếu không phải là cơ sở hạ tầng là cái rất cơ bản để giải quyết hàng loạt các vấn đề khác. Hạ tầng đó là thuỷ lợi gắn với giao thông và gắn với đời sống… Để làm được điều đó trong tình hình hiện nay, với thời gian như thế là một yêu cầu cao và rất gay gắt. Nhưng đó là sự lựa chọn không cách nào khác. Vì thế chúng ta phải tập trung, phải dành dụm, phải huy động một cách cao nhất tài lực và vật lực… Nhưng nếu chúng ta không chọn lựa phương án hết sức khó khăn này thì Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tụt hậu xa, chẳng những nguy cơ với đồng bào vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà còn nguy cơ đến nhịp độ phát triển của đất nước”.
Trong ba ngày hội nghị có một nhất trí cao là: Quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ ra đời rất đúng lúc. Nó thỏa mãn sự khát khao chờ đợi của Đảng bộ và nhân dân các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ nhiều năm nay.
Mục tiêu của kế hoạch triển khai Quyết định 99TTg ở Đồng bằng sông Cửu Long thực sự to lớn. Trong 5 năm tới phải tăng thêm ít nhất 2 triệu tấn thóc, đạt sản lượng 15,5 đến 16 triệu tấn/ năm. Để đạt được mục tiêu đó, thuỷ lợi phải tạo điều kiện để khai hoang, tăng vụ thêm 500.000 ha gieo trồng lúa, đưa diện tích gieo trồng lúa đạt 3,6 triệu hecta đồng thời nâng cấp, đảm bảo điều kiện thâm canh tăng vụ trên diện tích đã gieo trồng 2 vụ, phát triển bền vững cây ăn trái và hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày.
Cùng với phát triển sản xuất, trong 5 năm phải tập trung giải quyết các yêu cầu cụ thể, tối thiểu về đời sống vật chất, văn hoá, ổn định đời sống cho khoảng 4 triệu nông dân vùng ngập lũ; đảm bảo những sinh hoạt chủ yếu nhất của nhân dân không bị gián đoạn trong mùa lũ như sàn nhà ở, trường học, bệnh viện… hạn chế thấp nhất thiệt hại về người khi có lũ. Ở những vùng không bị ảnh hưởng của lũ phải nhanh chóng khắc phục những mặt yếu kém của Đồng bằng sông Cửu Long với mục tiêu: Mọi gia đình đều có nhà kiên cố, trẻ em đến tuổi đều được đi học, xóa lớp học ba ca, mọi người dân đều được dùng nước sạch, có đường ô tô đến tận xã, ấp, bê-tông hóa hầu hết các cầu ở nông thôn… Nói tóm lại 5 năm phải xoay chuyển hẳn cục diện nông thôn toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Về cơ sở hạ tầng của Đồng bằng sông Cửu Long 5 năm phải hình thành được những trục chính của hệ thống thủy lợi và giao thông. Với thủy lợi, định hình được hệ thống kênh trục tạo nguồn tiêu thoát úng, lũ, chua, phèn, kết hợp với việc hình thành các cụm, tuyến dân cư bảo đảm sinh hoạt của vùng ngập lũ, ở vùng mặn có nguồn nước ngọt, mở ra địa bàn khai hoang tăng vụ. Về giao thông, phải hình thành được hệ thống giao thông thủy và bộ tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ giữa hệ thống giao thông các cấp và hệ thống thủy lợi. Hệ thống giao thông đó không được tạo thành vật cản dòng chảy làm tăng cao thêm mức lũ…
Những yêu cầu về xây dựng hạ tầng Đồng bằng sông Cửu Long trong vòng 5 năm rõ ràng là rất cao và rất gay gắt như Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói.
Có lẽ vì thế mà trong hội nghị triển khai Quyết định 99TTg, những người phải trực tiếp “xắn tay áo” làm những việc này ở Đồng bằng sông Cửu Long là cấp huyện, đã được Thủ tướng mời đầy  đủ cả Chủ tịch lẫn Bí thư các huyện toàn đồng bằng về thành phố Hồ Chí Minh để bàn bạc. Đây là lần đầu tiên có một cuộc hội nghị mà Thủ tướng Chính phủ và các bộ làm việc trực tiếp với cấp huyện ở một vùng kinh tế rộng lớn của đất nước.
Điều đáng mừng là cấp huyện ở Đồng bằng sông Cửu Long tuy còn vô vàn khó khăn, thiếu thốn nhưng đầy phấn khởi và quyết tâm để thực hiện Quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Để thực hiện một chương trình phát triển to lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long, đánh dấu một giai đoạn phát triển lịch sử với đồng bằng, để làm được những điều đó trong 5 năm tới, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã yêu cầu phải “nói rõ cho bàn dân thiên hạ” biết chủ trương lớn này của Đảng và Nhà nước ta. Thủ tướng nói: Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng ở sự thành công của Quyết định 99TTg.
“Thủy lợi” được xem là trọng yếu nhất để đầu tư. Đó là một bài toán đúng. Sản phẩm của vùng đất trù phú này là lúa gạo, trái cây và thủy sản… tất cả đều phải trông cậy vào nguồn nước ngọt, hay nói một cách khác: tất cả trông vào khả năng cung cấp nước ngọt. Ở đâu kiểm soát, phân bổ sử dụng có hiệu quả nước ngọt phù sa của sông mẹ Cửu Long… thì ở đó lúa vàng trái ngọt, tôm cá mặn mòi. Nói như một nhà văn ở đồng bằng thì ở đâu có nước ngọt “con gái đỏ chót như trái mận trên cành”! Nước ngọt phù sa là tất cả hạnh phúc, là sống còn với Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay và mai sau. Vì thế việc bảo vệ nguồn nước ngọt, không để nước ngọt bị ô nhiễm, khai thác và sử dụng nó một cách hợp lý, có tính toán kĩ là cực kỳ quan trọng với Đồng bằng sông Cửu Long. Có thể nói không ngoa rằng, một giọt nước sông Tiền, sông Hậu là một giọt vàng. Cái gì cũng có thể làm ra được nhưng nước ngọt phù sa thì không thể làm ra. Có đồng chí lãnh đạo ngành nông nghiệp nhiều năm ở Đồng bằng sông Cửu Long đã nói với tôi: Mọi tư duy Đồng bằng sông Cửu Long phải xuất phát từ khả năng cung cấp nước ngọt. Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng có  lần nói với tôi rằng: Nước ngọt cần cho công nghiệp hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long sau này…
Ngay từ những năm đầu đi đôi với việc sản xuất lương thực, thực phẩm rất khẩn thiết sau chiến tranh, chúng ta đã tiến hành điều tra cơ bản về Đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó được nâng lên thành chương trình điều tra cơ bản và tổng hợp Đồng bằng sông Cửu Long có mã số 60-02. (Chương trình Khoa học Kỹ thuật trọng điểm cấp nhà nước 1981-1985).
Kết quả của chương trình 60-02 là cơ sở để phân vùng sản xuất, phân vùng sinh thái, vì sản xuất nông nghiệp là sản xuất theo vùng, gắn chặt với vùng.
Các công trình điều tra cơ bản tổng hợp và phân vùng đã được tổng hợp lại để xác định 6 vùng sinh thái lớn cho Đồng bằng sông Cửu Long.
Sáu vùng sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long được trình bày dưới đây, tác giả gắn kết nó với các công trình thủy lợi và giao thông đang được triển khai của Quyết định 99TTg trong tháng 6 cuối năm 1996, năm đầu tiên thực hiện kế hoạch trong 5 năm của Quyết định 99TTg.
* Vùng 1: Vùng phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu.
Trong sáu vùng sinh thái nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long, vùng phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu được xếp hàng đầu. Vì thế nó còn có tên là vùng 1. Vùng 1 đúng là vùng số một của Đồng bằng sông Cửu Long vì nó hội tụ được nhiều thế mạnh cơ bản các điều kiện tự nhiên, xã hội của đồng bằng.
Trong lịch sử chinh phục Đồng bằng sông Cửu Long, vùng một đã phát huy tiềm năng với tốc độ phát triển cao và trong tương lai, nó vẫn là vùng dễ phát huy thế mạnh nước ngọt để lấn sâu vào vùng phèn và mặn bao quanh.
Nhìn trên bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long, vùng phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu bắt đầu từ địa phận sông Cửu Long chảy vào biên giới nước ta, chạy dài từ Hồng Ngự, Châu Đốc qua một phần đất của các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, kéo dài xuống đến Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ…
Do vị trí trên mà đất đai vùng này đều là đất phù sa mới, phì nhiêu, cân đối lượng NPK (đạm – lân – kali). Cũng do vị trí ven sông mà vùng đất này thuận lợi nhất. Vì rằng, một phần đất ở đây được ngập hoặc được tưới nước phù sa. Có điạ bàn có thể lợi dụng thủy triều để tưới từng phần. Ngay trên địa bàn bị ngập lũ hàng năm của vùng này, vẫn có thể biến khó khăn thành thuận lợi, bằng cách thay đổi cơ cấu mùa vụ để thâm canh, khi mùa lũ thì lấy phù sa, lấy nước ngọt và tôm cá.
Diện tích canh tác của phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu vào loại nhất trong 6 vùng sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long, gần 1 triệu hecta bao gồm đất lúa: 836.000ha còn lại là đất vườn.
Cũng do vị trí thuận lợi số một này, vùng 1 trước năm 1975 và xa hơn nữa, vẫn là vùng kinh tế phát triển nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng tập trung lao động đông nhất và có kỹ năng cao nhất về sử dụng các giống mới năng suất cao, sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thâm canh lúa, đậu nành, bắp, các loại dưa xuất khẩu… Đây cũng là vùng miệt vườn cây trái nổi tiếng của Nam Bộ với kỹ thuật lên liếp, lập vườn, chiết cây, ghép cành, bảo vệ vườn cây trái bằng cách nuôi kiến vàng để bắt sâu rất độc đáo. Ngoài ra, vùng này còn có tập quán nuôi cá bè, nuôi tôm, vớt cá giống hàng trăm triệu con hằng năm. Vùng phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu là vùng tập trung cơ khí nhiều nhất ở Nam bộ với hàng trăm ngàn máy cày, máy bơm, máy suốt lúa… và có tay nghề sữa chữa cơ khí thành thục.
Sau hòa bình năm 1975, do chính sách hợp tác hóa nông nghiệp ồ ạt, thiếu bước đi thích hợp, sự phát triển của vùng 1 bị chựng lại. Nhưng kể từ sau khi có nghị quyết 10 của Trung ương, vùng 1 của Đồng bằng sông Cửu Long đã có bước phát triển nhanh. Trước hết phải kể đến khu vực trồng lúa. Chưa bao giờ Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng 1 nói riêng lại có phong trào thâm canh tăng vụ, luân canh sử dụng giống mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sôi nổi như lúc này. Nhiều nông dân được suy tôn là các nhà “bác học chân đất” như chú Ba Nở trồng bắp lai ở Tân Châu (An Giang) đạt 7 tấn/ha, chú Hai Chung, Tư Tải, Bảy Nhỏ ở Tiền Giang làm giống mới, trồng đậu nành xen lúa. Các câu lạc bộ nông dân giỏi làm vườn đã lần lượt ra đời ở Cái Bè, Cai Lậy(Tiền Giang) vào cuối những năm 80 rồi lan rộng ra cả đồng bằng… Tỉnh Tiền Giang có thể xem là tiêu biểu cho phong trào thâm canh tăng vụ cho cả vùng 1 và cả đồng bằng. Từ đầu những năm thập kỷ 80, ngay thời kỳ còn cơ chế bao cấp, Tiền Giang đã xây dựng phương án vùng lúa năng suất cao trên diện tích 10.000ha ở huyện Cai Lậy, sau đó mở rộng ra hai huyện Cái Bè và Châu Thành. Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang chỉ có diện tích trồng lúa  21.977 ha, nhưng với kỹ thuật thâm canh 3 vụ/năm, Cai Lậy đã nâng diện tích trồng lúa cả năm lên đến 65.834 ha. Năm 1986 sản lượng lúa của Cai Lậy là 239.000 tấn, năm 1995 đã lên đến 320.000 tấn. Nâng bình quân lúa ở Cai Lậy đạt kỷ lục 11 tấn/ha/năm.
Nhưng có lẽ không khí nhộn nhịp nhất là ở vùng 1 của Đồng bằng sông Cửu Long tập trung ở miệt vườn. Do tác động của thị trường và sự hỗ trợ vốn của Ngân hàng nông nghiệp, phong trào cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên canh cây ăn trái có giá trị được đẩy mạnh. Ở tiểu khu vực miệt vườn Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long, Cần Thơ… một công vườn (1.000m2) cho giá trị bằng từ 5 đến 10 công lúa. Chỉ có 2.500 ha nhãn, mùa nhãn năm 1994 đã đem lại cho nông dân miệt vườn Vĩnh Long gần 100 tỷ đồng (với giá bán tại gốc 4.000đồng/ kg)! Nhãn “lên ngôi” ở Vĩnh Long, Tiền Giang, Cần Thơ thì hàng ngàn hecta cây trái khác như dừa, chôm chôm…bị đốn bỏ… để trồng nhãn! Nhưng liệu nhãn ở ngôi được bao lâu nữa?!! Đốn cây này trồng cây kia là chuyện sôi động ở miệt vườn hôm nay trong thời buổi cơ chế thị trường này. Một điều thú vị bất ngờ là cùng với sự phát triển của miệt vườn, một ngành du lịch mới được hình thành ở Đồng bằng sông Cửu Long mấy năm qua là du lịch xanh – còn gọi là du lịch miệt vườn. Sáu tháng đầu năm 1996, ngành du lịch tỉnh Tiền Giang đã đón hơn 46.000 du khách tới tham quan miệt vườn, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 36.000 khách quốc tế, chủ yếu là khách châu Âu. Cồn Thới Sơn một vùng cây ăn trái tươi tốt giữa sông Tiền, vài năm qua đã đón một lượng du khách quốc tế gấp 10 lần số dân sở tại nơi đây!
Bước vào thời kỳ mới, vùng 1, tức vùng phù sa nước ngọt phát triển nhất của Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang đứng trước những thử thách gay gắt.
Lúa, sản phẩm chính của vùng 1 đã có dư để xuất khẩu nhưng phải đủ sức để cạnh tranh với thị trường lúa gạo quốc tế bằng phẩm chất hạt gạo không ngừng được nâng cao! Trong khu vực miệt vườn, sự thách đố còn cao hơn nữa 200.000 ha vườn cây trái ở vùng phù sa nước ngọt đang đứng trước 3 nguy cơ lớn. Một là, giống cây ăn trái như cam, quýt, sa-pô-chê, mãng cầu… đều đã tới thời kỳ thoái hóa và đang sinh bệnh. Hai là, công nghiệp chế biến trái cây còn quá nhỏ bé. Tỉnh Tiền Giang là một ví dụ, sản phẩm được chế biến chưa quá 5% tổng sản lượng 350.000 tấn trái cây hàng năm của tỉnh. Thứ ba là, “đầu ra” cho thị trường trái cây hoàn toàn không ổn định.
Quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với phát triển thủy lợi , giao thông, xây dựng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long” có một ý nghĩa rất lớn với vùng phù sa nước ngọt. Việc định hình hệ thống kênh trục tạo nguồn tiêu thoát úng, lũ, chua, phèn và hình thành hệ thống giao thông chính ở đồng bằng sẽ đặt cơ sở để vùng 1 bước vào thời kỳ phát triển mới. Có mặt bằng và đường sá tốt, mới thu hút được đầu tư và quyến rũ khách du lịch. Chỉ có hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng thủy lợi và giao thông thì các thế mạnh của vùng 1 mới phát huy hết tiềm năng của nó. Hơn thế, các công trình của dự án vùng ngập nông như: dự án kênh Xã Tàu – Sóc Trăng, kênh Xẻo Mát – Cái Von, kênh Nha Mân – Tư Tải… đều nằm trong vùng miệt vườn. Kinh nghiệm mấy năm trước đó cho thấy, khi xảy ra lũ lụt, tuy ngập nông nhưng vùng miệt vườn thiệt hại nặng nhất. Chỉ tính riêng 32.000ha vườn cây trái ở Vĩnh Long bị ngập lụt trong mùa lũ 1994 đã thiệt hại đến 30 tỷ đồng! Quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ tạo thêm một ưu thế nữa cho vùng phù sa nước ngọt vốn có ưu thế hàng đầu ở Đồng bằng sông Cửu Long.
* Vùng 2: vùng đất nhiễm mặn phù sa ven biển đông ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng đất phù sa nhiễm mặn ven biển Đông là một trong 6 vùng sinh thái tự nhiên lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm tới hơn 900.000 ha đất tự nhiên, chạy dài từ các huyện ven biển tỉnh Long An qua vùng ven biển Gò Công (tỉnh Tiền Giang), Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng đến tận huyện Giá Rai – tỉnh Minh Hải.
Hạn chế nhất của vùng đất này là mặn vào mùa khô, nồng độ mặn lên cao, không có nước cho sản xuất và đời sống. Ở những nơi đất trũng, mặn còn kết hợp với gió chướng, nhiều ruộng trũng ven biển bị ngập.
Do đặc điểm của đất đai như vậy nên vùng nhiễm mặn ven biển ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa kia chỉ trông vào nước trời mùa mưa mỗi năm làm được một vụ lúa dài ngày, năng suất rất thấp, dân tình rất nghèo khổ, phụ nữ, trẻ em thường bệnh tật vì thiếu nước ngọt cho sinh hoạt tới 6 tháng trong một năm.
Công cuộc ngăn mặn và giữ ngọt là cuộc chiến đấu bền bỉ của nhân dân vùng đất khắc nghiệt này từ bao đời nay. Nhưng ngăn mặn và giữ ngọt cho một vùng đất cả triệu hecta là một công việc to lớn tầm cỡ vĩ mô, từng hộ nông dân cá thể không làm nổi việc này.
Phải chờ đến sau 30/4/1975, những công trình thủy lợi đầu mối được ra đời, nhằm biến cải bộ mặt nông nghiệp từ quảng canh sang thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long, đem lại no ấm cho nông dân đồng bằng, trong đó có vùng đất nhiễm mặn rộng lớn ven biển…
Có thể nói sau 20 năm với vùng đất nhiễm mặn ven biển Đồng bằng sông Cửu Long là 20 năm Nhà nước và nhân dân cùng làm thủy lợi, dẫn ngọt, ngăn mặn, tháo úng cho một vùng đất khắc nghiệt rộng lớn tới 54.000 ha gồm cả tỉnh Gò Công cũ xưa kia. Hệ thống công trình “Ngọt hóa Gò Công” phải thực hiện trong 15 năm, theo một trình tự gồm 3 giai đoạn, với nhiều hạng mục như: tuyến đê biển và đê sông ngăn mặn dài 134km, mạng kênh trục dẫn nước ngọt dài 119 km và sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của 55 cống đập lớn nhỏ. Chương trình “Ngọt hóa Gò Công” được chính thức khởi công từ năm 1986. Sau một thập niên gian khổ, chương trình đã đi được 2/3 chặng đường với những kết quả náo nức lòng người. Vùng đất nghèo đói từ bao đời này đã tự túc được lương thực trong dân. Vụ đông xuân 1995-1996 nhiều nơi như ở Gò Công Đông có nơi lúa vụ 3 đã lấn sát tới tận đê biển.
Những ai đã từng chứng kiến mùa khô dài dằng dặc, đất nẻ đến tận đáy ao, gió chướng mang nặng sương muối từ biển dội vào, tàn phá làng mạc nơi đây, con gái phải oằn lưng gánh nước đêm trăng… mới thấy hết giá trị những dòng nước ngọt do công trình “Ngọt hóa Gò Công” mang lại…
Vùng đất nhiễm mặn ven biển Bến Tre có công trình ngăn mặn Vàm Đồn đem lại nhiều bất ngờ trong sản xuất. Trước đây, với độ nhiễm mặn tương đối cao, người ta chỉ nghĩ đến một hệ thống canh tác lúa và dừa. Nhưng với công trình Vàm Đồn, có xã như Châu Bình của huyện Giồng Trôm đã trồng mía với năng suất 80 tấn/ha. Mở ra nhiều triển vọng  trồng trọt và chăn nuôi xưa nay chưa có ở vùng đất này.
Với tỉnh Trà Vinh thì dự án ngọt hóa Tầm Phương đã đem lại lúa hai vụ, góp phần xóa bỏ tình trạng nghèo đói của đồng bào Khmer từ nhiều đời nay.
Điều bất ngờ trong công cuộc ngọt hóa lại diễn ra ở một tỉnh vào loại nghèo nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long là Sóc Trăng. Bức xúc trước sự nghèo đói của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, bằng sức lực của chính mình, Đảng bộ Sóc Trăng đã phát động nhân dân xây đắp một tuyến đê biển đê sông ngăn mặn. Đê cao 1,5m, mặt đê rộng 6m, xe bốn bánh có thể đi lại dễ dàng vào mùa khô. Đất đào lên đắp đê tạo thành một hệ thống kênh mương chứa 6 triệu mét khối nước ngọt! Sản xuất và đời sống của dân Sóc Trăng nhờ có đê ngăn mặn mà bật dậy, 160.00 ha đất nông nghiệp đã có nước tưới. Từ 64.000 ha lúa hai vụ năm 1993 đã nâng lên 90.000 ha trong năm 1995. Sóc Trăng đã tham gia câu lạc bộ 1 triệu tấn nhờ hệ thống đê ngăn mặn này.
Nhìn toàn cảnh, vùng nhiễm mặn ven Đồng bằng sông Cửu Long đang ngọt hóa. Đó là cuộc chiến đấu bền bỉ, ngoan cường với khát vọng đổi đời của bà con vùng đất khắc nghiệt này. Có thể lấy “câu chuyện của bác Tám Tiệm” ở xã Thái Thuận, huyện Mỹ Xuyên làm một ví dụ. Bác Tám vừa mới xây xong nhà thì một tuần lễ sau đê ngăn mặn chạy tới. Ăn tân gia xong, Bác Tám lại thắp hương khấn ông bà và tự tay phá bỏ ngôi nhà mới của mình để công trình đê ngăn mặn đi qua…
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ sẽ là thời kỳ mới đầy hứa hẹn với vùng đất nhiễm mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trong 3 dự án lớn về thủy lợi đến năm 2000 được đầu tư tập trung gần 2.000 tỷ đồng, thì vùng nhiễm mặn “có phần” trong 2 dự án. Đó là dự án ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp và ngọt hóa Nam Măng Thít. Trong 34 danh mục công trình của Quyết định 99 thực hiện trong năm 1996 có tới hàng chục công trình nằm trong vùng nhiễm mặn của Đồng bằng sông Cửu Long. Trong 7 tháng đầu năm 1996, các công trình cống Mỹ Tú, cống Tam Sóc, cống Rạch Rê, kênh Nàng Rền, kênh Ngàn Dừa- Bạc Liêu… trong 34 danh mục đó đã được chuyển tiếp và khởi công xây dựng mới…Tương lai của vùng mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long sẽ rất ngọt ngào …
* Vùng bán đảo Cà Mau
Vùng bán đảo Cà Mau là mảnh đất tận cùng phía Nam của Đồng bằng sông Cửu Long, có tiềm năng giàu và có thế mạnh đặc biệt về kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp.
Do có địa hình chữ V với góc rất nhọn, nước biển theo các kênh ngòi lớn đi suốt chiều dọc và chiều ngang, thủy triểu ngập sâu, vào ra liên tục, đã đem lại những nguồn tài nguyên sinh vật biển quý, đặc biệt là tôm cá cho bán đảo Cà Mau. Ngoài ra bán đảo Cà Mau còn có hệ thống sinh thái rừng ngập mặn (rừng sác) và hệ thống sinh thái rừng tràm cùng với lớp đất mặn có nhiều chất hữu cơ. Hơn thế nữa, với cường độ bức xạ mặt trời mạnh, chế độ nhiệt ôn hòa quanh năm và mưa trên 2.000mm kéo dài tới tháng 7… vùng bán đảo Cà Mau đã trở thành mảnh đất lý tưởng cho kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp phát triển. Hệ sinh thái rừng tràm còn là khu vực điều hòa nước ngọt rộng lớn và rất quan trọng với vùng mặn và phèn như bán đảo Cà Mau. Và rừng tàm dày đặc là cái nôi cư trú cho các loài thủy sản, các loài chim và ong rừng, biến Cà Mau trở thành vùng có sinh thái độc đáo.
Thiên nhiên đã ưu đãi cho bán đảo Cà Mau của Đồng bằng sông Cửu Long những điều kiện địa lý và tự nhiên thật lý tưởng cho sự sống của muôn loài. Vì thế, rừng ngập mặn Năm Căn hiện nay được xếp vào loại quý hiếm, nó có hạng trên thế giới sau rừng ngập mặn sông Amazon ở Brazil – Nam Mỹ.
Về mặt lịch sử, dù cũng là vùng ven biển nhưng bán đảo Cà Mau được khai thác chậm hơn vùng ven biển phía Đông vì đất nhiễm phèn nặng.
Sau hòa bình lập lại năm 1975, kinh tế của bán đảo Cà Mau mà chủ yếu thuộc lãnh địa tỉnh Minh Hải và một phần nhỏ của tỉnh Kiên Giang đã phát triển theo xu hướng nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp. Nhưng một thời gian dài, do sai lầm của chính sách phá rừng để xây dựng các nông trường lúa, vùng chuyên canh đậu nành, di dân khai hoang thiếu tổ chức… rừng Minh Hải đã bị tàn phá nặng. Đến năm 1983, Minh Hải chỉ cỏn 118.000 ha rừng (trước tháng 9/1945 là 290.000 ha). Từ năm 1983 trở đi, tình hình còn phức tạp hơn. Với chủ trương giải thể các lâm trường, giao đất cho dân nhưng không có chính sách cụ thể để bảo vệ rừng, đã dẫn tới rừng ở một số nơi bị phá sạch để nuôi tôm. Như ở Lâm trường Bông Văn Dĩa, trong vòng 5 năm, 10.000 ha rừng đã bị tàn phá hết!
Thủ tướngVõ Văn Kiệt trong Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện QĐ 99TTg tại TPHCM (1988).
10 năm sau, trong sự đổi mới đi lên của đất nước, kinh tế Minh Hải có bước phát triển rõ nét. Trước hết phải kể đến những tiến bộ trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Vì kinh tế Minh Hải mũi nhọn lả thủy sản, trong vòng 5 năm từ năm 1991 đến năm 1995, sản lượng khai thác thủy sản là 660.000 tấn, doanh số xuất khẩu lên đến là 537 triệu USD. Nhưng cái gốc của thủy sản là rừng. Nhận thức rõ: mất rừng là mất hết, Minh Hải có những nỗ lực lớn trong các biện pháp can thiệp đồng bộ để giữ rừng. Quyết định 389 của UBND tỉnh Minh Hải năm 1989 rồi tiếp đó hoàn thiện một bước bằng chỉ thị 64 “Giao đất giao rừng cho dân” đã khuyến khích được nhân dân trồng rừng. Với mô hình lâm nghiệp xã hội, đã có 10.114 hộ dân được giao đất khoán rừng với diện tích 75.170 ha, thời gian từ 5-10-15 năm. Tháng 8/1993, Tổng bí thư Đỗ Mười đi thăm lâm ngư trường 184, một lâm- ngư trường thực hiện giao toàn bộ đất cho dân sản xuất, bảo vệ, kinh doanh tổng hợp (trồng rừng và nuôi tôm) dưới sự hướng dẫn, quản lý chặt chẽ của Nhà nước… Tổng bí thư đã hết sức khen ngợi bà con và cán bộ nơi đây, và cho đó là một việc làm kết hợp được lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của đất rừng Minh Hải.
Đến hết năm 1995, Minh Hải đã phục hồi và trồng mới được 104.000 ha rừng. Trong đó rừng đước là 71.000 ha, còn lại là rừng tràm. Cái đích của Minh Hải là 176.000 ha rừng trong những năm sau.
Cũng trong năm 1995, Minh Hải đã làm được một việc có ý nghĩa là, kiên quyết thực hiện Quyết định 432 TTg của Thủ tướng Chính phủ, trục xuất 2.214 hộ gia đình đã “được giao đất kết hợp trồng rừng với nuôi tôm mà không thực hiện nghiêm chỉnh, chỉ khai thác tôm, dẫn đến hủy hoại rừng” ra khỏi rừng. Đồng thời giải tỏa 8.000 ha đất bãi bồi từ Mũi Cồn đến bờ nam sông Bảy Hạp bị lấn chiếm, tranh chấp quyết liệt từ nhiều năm!
Ở khu vực sản xuất nông nghiệp, từ năm 1991 đến 1995, tổng sản lượng lương thực của Minh Hải đạt 5,7 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn so với năm trước đó. Đất nông nghiệp của Minh Hải có tới gần 400.000ha, trong đó đất lúa 300.000ha. Minh Hải còn có những giống lúa thơm nổi tiếng như một-bụi, tép-hành, nàng-hương, gieo cấy thành vùng gắn với nuôi cá đồng ở Đầm Dơi, Cái Nước, U Minh… Do bị ngập sâu nên diện tích lúa ở Minh Hải phần lớn là lúa một vụ. Vài năm sau, trên 100.000ha đất của Minh Hải bị nhiễm mặn và phèn được ngọt hóa để tiến tới làm được 2 – 3 vụ/năm cùng với các sản phẩm cây trồng khác.
Trên bước đường đi lên của nông nghiệp Minh Hải, Quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long” đã thổi một luồng gió mới lên đồng ruộng Minh Hải. Vì, từ trước tới nay Minh Hải ít nhận được những đầu tư về thủy lợi của Nhà nước Trung ương so với các vùng khác ở Đồng bằng sông Cửu Long như Đồng Tháp Mười, vùng mặn ven biển Đông…
Nhưng với dự án ngọt hóa Quản Lộ - Phụng Hiệp, dự án lớn thứ hai trong 3 dự án của Quyết định 99 thì vùng bán đảo Cà Mau và một phần tỉnh Sóc Trăng sẽ nhận được đầu tư của Trung ương đến năm 2000 là 260 tỷ đồng để ngọt hóa 276.000ha. Ngay trong năm 1996 đã hoàn thành các mục tiêu của dự án thuộc địa phận tỉnh Sóc Trăng để tăng vụ cho 42.000ha. Tiếp đó, 7 cống ngăn mặn lớn thuộc địa phận Minh Hải là: Vĩnh Mỹ, Chủ Chí, Phó Sinh, Láng Trâm, Cà Mau, Bạch Ngưu, Trắng Băng sẽ được thi công cùng với 7 kênh tưới tiêu nữa được nạo vét. Sẽ có khả năng khai hoang thêm 23.000ha, tăng thêm một vụ cho 140.000ha, mở thêm 3 vụ cho 30.000ha ở bán đảo Cà Mau để có thêm 1 triệu tấn lúa và mở rộng vùng đất trồng bắp khi dự án Quản Lộ - Phụng Hiệp được hoàn thành. Bán đảo Cà Mau đầy tiềm năng thực hiện Quyết định 99 TTg với nhiệt tình của một vùng đất xưa nay “nghèo” thủy lợi nhất.
* Vùng 4: Vùng đất trũng Tây Sông Hậu
Trong 6 vùng sinh thái nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất trũng Tây Sông Hậu ít được nhắc tới nhất. Có lẽ một phần vì diện tích của nó nhỏ nhất, chỉ có 380.000ha đất tự nhiên trong đó diện tích đất lúa 262.000ha. Nhìn vào bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Sông Hậu nằm lọt giữa kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp ở phía Đông thuộc tỉnh Sóc Trăng và kênh Cái Sắn, ở phía Tây thuộc tỉnh Kiên Giang. Như vậy, vùng Tây Sông Hậu phần lớn thuộc phần đất phía Tây tỉnh Cần Thơ và còn lại thuộc đất 2 tỉnh Sóc Trăng ở phía đông, Kiên Giang ở phía tây.
Đặc điểm cơ bản của vùng này là đất trũng, bị ngập úng nông, trung bình 70cm, khó thoát nước ra sông Cái Lớn. Nhưng do bị ngập úng nên có tác dụng ém phèn. Vì thế đại bộ phận ít phèn, riêng phần đất trũng có nguồn gốc trầm tích biển thì phèn trung bình.
Cũng có địa hình như vậy mà xưa kia vùng Tây Sông Hậu có tập quán cấy lúa giâm, tức là cấy lúa hai lần, vì vào thời vụ cấy lúa mùa, nước còn ngập sâu. Hơn nữa, còn do đất vùng này nhiều đạm cấy một lần lúa sẽ bị lốp! Ở vùng gần kênh Cái Sắn, ruộng bị ngập sâu trên 1m, người ta phải cấy lúa nổi, năng suất thấp.
Thế mạnh của vùng đất Tây Sông Hậu là tuy phèn và trũng nhưng đất có chứa nhiều chất hữu cơ và mùn nên nhìn chung là đất tốt. Riêng phần đất vùng Hỏa Lựu, giáp ranh giữa 3 tỉnh Cần Thơ, Kiên Giang và Minh Hải đất chua phèn nhiều nhưng chứa nhiều hữu cơ nên rất thích hợp với việc trồng khóm. Đây cũng là vùng chuyên canh khóm tập trung nhất (trên 10.000ha) ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ sau ngày 30-4-1975, Đảng bộ và nhân dân địa phương trong vùng đã tác động mạnh vào vùng đất này bằng các biện pháp thủy lợi thích hợp như đào kênh mới, nạo vét, mở rộng các kênh cũ, dẫn ngọt từ sông Hậu, đẩy phèn về phía sông Cái Lớn ra biển, kết hợp thủy lợi nội đồng… để chuyển lúa 1 vụ lên 2 vụ/năm (đông-xuân và hè-thu).
Theo hướng đó, đến năm 1990, ngành thủy lợi đã hoàn thành 9 con kênh nối sông Hậu với sông Cái Lớn để bà con nông dân trong vùng tăng vụ. Nhìn vào bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay, các con kênh song song nhau, thẳng hàng như kẻ chỉ, được kí hiệu như KH1, KH5, KH6, KH7, kênh Thốt Nốt, kênh Xà No… chính là những công trình thủy lợi mới nhằm biến cải vùng đất Tây Sông Hậu lên 2 vụ lúa/năm. Riêng tỉnh Kiên Giang đến năm 1981 lúa đông-xuân trong vùng Tây Sông Hậu mới đạt 4.000ha, năng suất 1,8 tấn/ha, nhưng nhờ các công trình thủy lợi nói trên đến năm 1986 đã nâng lên 40.000ha, năng suất đạt 3,7 tấn/ha. Với tỉnh Cần Thơ cũng đạt hiệu quả tương tự.
… Có thể lấy Nông trường Sông Hậu trên địa bàn Ô Môn tỉnh Cần Thơ làm ví dụ tiêu biểu cho sự thay đổi đi lên của vùng đất Tây Sông Hậu. Sau 1975, 7.000ha đất thuộc Nông trường sông Hậu, lúc đó là vùng mênh mông lau sậy, chằng chịt gõ trùng, không ai muốn ngó ngàng tới. Nhưng với sự lãnh đạo, sáng tạo của giám đốc – anh hùng Năm Hoằng, những người lao động ở đây đã nỗ lực biến cải mảnh đất hoang sơ này thành một địa chỉ đỏ, thành nơi có đời sống vật chất và tinh thần cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long. 7.000ha đất tự nhiên ở Nông trường sông Hậu có 5.565ha lúa 2 vụ, năng suất bình quân 10 tấn/ha/năm, cho sản lượng 60.000 tấn/năm. Ngoài ra còn 1.000ha rau màu trồng xen, 300ha cây ăn trái, 2.500ha nuôi cá trên ruộng, 5 triệu cây bạch đàn trồng phân tán tương đương với 3.000ha rừng tập trung…
Nông trường sông Hậu còn có một nhà máy phát điện 600KWh, 60 máy cày, 800 máy bơm, 12 máy xới, 40 máy tuốt để phục vụ gần 6.000ha canh tác; 4 nhà máy xay lúa và nhà kho 20.000 tấn phục vụ xuất khẩu. Giá trị tổng sản lượng của Nông trường sông Hậu đến năm 1993 là 80 tỷ đồng. Nhưng điều đáng nói nhất ở Nông trường sông Hậu là đã xây dựng được một nếp sống văn hóa cao. 97% trẻ em Nông trường sông Hậu trong độ tuổi đến trường. 2.800 hộ nông trường viên, trong đó có 10.000 lao động, 105 cán bộ quản lý và kỹ thuật ở Nông trường sông Hậu có tác phong công nghiệp… đó là điều giám đốc Năm Hoằng tự hào nhất. Chính ông đã nói với người viết: “Công cụ, máy móc càng tinh xảo thì kỹ năng, lối sống của con người phải tương đương, vì thế chúng tôi lo giáo dục con người, xây đắp cho con người…”
Nông trường sông Hậu cung cấp cho chúng ta những hình mẫu để suy nghĩ về công cuộc công nghiệp hóa nông nghiệp… ở Đồng bằng sông Cửu Long sau này. Với Quyết định 99TTg thì vùng Tây sông Hậu được hưởng các công trình thủy lợi, giao thông trong dự án “vùng ngập nông” của “dự án lũ” – dự án lớn nhất của Quyết định 99TTg. Các công trình đó tiếp tục nạo vét các kênh KH6, KH7, kênh Nàng Mầu… nhằm tạo nguồn tưới tiêu cho vùng Tây sông Hậu cùng các công trình khác. Công trình KH6 được khởi công trong năm 1996-1997 để tưới ngọt cho 19.000ha với vốn đầu tư đến 24 tỷ đồng. Các công trình khác được làm vào các năm 1997 đến 1999 với số vốn mỗi công trình từ 20 tỷ đồng trở lên.
Miền Tây sông Hậu tuy diện tích nhỏ nhất trong 6 vùng sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại nằm ở vị trí khá trung tâm gần các cơ sở khoa học như Viện Lúa Ô Môn, Đại học Cần Thơ, lại có mô hình Nông trường sông Hậu phát triển nông nghiệp toàn diện, kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng chế biến nguyên liệu tại chỗ để xuất khẩu… chắc chắn sẽ là vùng phát triển nhanh ở Đồng bằng sông Cửu Long sau này.
* Vùng 5:Vùng Tứ giác Long Xuyên
Sau Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên là vùng đất hoang rộng lớn được khai thác có hiệu quả ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng đất này bao gồm phần đất trũng nhiễm phèn nặng từ bờ Tây sông Hậu đổ ra biển Kiên Giang, từ lộ Cái Sắn ngược lên biên giới. Đỉnh của Tứ Giác là thị xã sầm uất: Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên và Châu Đốc. Tứ giác Long Xuyên rộng trên 500.000ha của hai tỉnh Kiên Giang và An Giang.
Đặc điểm nổi bật của vùng đất này là hàng năm bị ngập lũ sâu từ 1m đến 2m. Vì thế, trước ngày giải phóng miền Nam, đất hoang ở Tứ giác Long Xuyên còn rất lớn.
Tứ giác Long Xuyên còn được xem là vùng đất xa xôi đầy bí ẩn, bởi giữa một vùng đồng bằng bao la lại mọc lên những dãy núi và dưới lòng đất của nó còn ẩn giấu một điều kỳ diệu là nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng…
Thực hiện Quyết định 99TTg, từ đầu năm 1996, vùng Tứ giác Long Xuyên thuộc An Giang đã tập trung cho 10 tuyến kênh và 8 vùng bao phục vụ sản xuất, giao thông và dân cư… với số vốn là 3,6 tỷ đồng/15,3 tỷ đồng kế hoạch dài hạn. Về giao thông, đã thực hiện 23 công trình, trong đó nâng cấp 3 tuyến đường dài 208km, làm mới 54km, sửa chữa 18 cây cầu vốn ngân sách 15 tỷ đồng. An Giang cũng là tỉnh sớm nhất có quy hoạch và kế hoạch tôn nền nhà dân cư trong vùng ngập lũ. 100% các huyện, thị trong tỉnh đã triển khai đến ấp, khóm việc bình chọn các hộ nghèo và hộ gia đình chính sách được vay vốn tôn nền hoặc làm nhà sàn trên cọc theo Quyết định 256TTg và Chỉ thị 13/CT-UB.
Tỉnh Kiên Giang đã nạo vét kênh kết hợp giao thông được 254km với vốn 9,85 tỷ đồng, xây dựng đường Giồng Riềng – Vị Thanh dài 37km với số vốn 8 tỷ đồng. Đồng thời chuẩn bị khởi công 4 tuyến đường khác. Tỉnh cũng đã phân bổ kế hoạch cho các hộ nghèo và hộ chính sách khác vay vốn trong vùng ngập lũ trên 1m năm 1996 là 2.73 hộ thuộc 5 xã, năm 1997 cho 5.076 hộ thuộc 10 xã.
Quyết định 99TTg của Nhà nước khi được hoàn thành, tương lai của vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên, vùng đất xa xôi và đầy bí ẩn của Đồng bằng sông Cửu Long… rất sáng sủa. Một cuộc sống phong phú, đa dạng sẽ được thiết lập ở một vùng đồng bằng rộng lớn lại có núi, có biển này.
* Vùng 6: Vùng Đồng Tháp Mười
Sau ngày 30/4/1975 chúng ta đã xếp Đồng Tháp Mười xuống hàng thứ 6 trong 6 vùng sinh thái nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Vì lẽ, Đồng Tháp Mười nhiễm phèn nặng, khô hạn về mùa nắng, ngập úng về mùa lũ, chỉ có cỏ năn, tràm hoang, rắn rít, muỗi mòng và cây lúa nổi sống được ở đây.
Là vùng hoang hóa, về mùa lũ, trước kia còn được gọi là mùa nước nổi, Đồng Tháp Mười trên trời dưới nước! Nhưng vì không có dân định cư trong vùng, nên thời đó không ai phải quan tâm đến lũ lớn hay lũ nhỏ. Lũ không làm chết ai, còn đem lại tôm cá, phù sa và cây lúa trời không trồng mà có lúa, nên lũ khi đó còn được gọi là lũ lành. Ngày nay, chúng ta khai phá đất hoang, đưa dân cư vô ở, xây nhà xây cống, thâm canh cây lúa hai vụ năng suất cao phải đầu tư lớn. Vì thế, lũ trở thành tai họa lớn với Đồng Tháp Mười hàng năm. Chỉ tính riêng huyện Tân Thạnh, một huyện mới thành lập trong vùng Đồng Tháp Mười thuộc Long An, trong hai mùa lũ lớn năm 1994 và 1995 đã thiệt hại trên 45 tỷ đồng và làm chết 22 người (!)…
Quyết định 99TTg và Thủ tướng Chính phủ có ý nghĩa lớn đối với số phận của Đồng Tháp Mười trong giai đoạn phát triển mới. Với Quyết định 99TTg, 3 chương trình lớn được đầu tư 2.000 tỷ đồng từ 1996 đến năm 2000, thì dự án đầu tư chống lũ bảo vệ dân cư và phát triển sản xuất ở vùng ngập lũ, trong đó chủ yếu cho vùng Đồng Tháp Mười đã chiếm 1.500 tỷ đồng. Nhìn vào bản đồ dự án thủy lợi cho Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2000, các công trình chống lũ cho vùng ngập sâu ở Đồng Tháp Mười như công trình kênh Tân Thành – Lò Gạch, kênh Hưng Điền, công trình đê bao thị trấn Tân Hồng… đều đứng ở vị trí đầu bảng với số vốn đầu tư lớn nhất …
Ngay 7 tháng đầu năm 1996, các công trình như kênh Tân Thành – Lò Gạch đã được khởi công và triển khai với số vốn xây dựng 21 tỷ 640 triệu đồng, tức 77% vốn kế hoạch, công trình kênh Hưng Điền với vốn xây dựng 6 tỷ 400 triệu, tức 44% vốn kế hoạch… Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã kiểm tra từng huyện có các hạng mục các công trình trên với sự quan tâm đặc biệt về vùng ngập sâu của Đồng Tháp Mười.
Đồng Tháp Mười Đã thực sự bước vào thời kỳ mới với quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính phủ. Những công trường thủy lợi hoạt động trong Đồng Tháp Mười là những mũi tiến quân mở đường cho vùng đất lịch sử này tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với cả nước...
L.P.K
(còn tiếp)
--------------

2 nhận xét:

  1. VN nên phát triển về mặt du lịch , nghỉ dưỡng , giải trí . Không nên chú trọng về nông nghiệp . Nhất là đồng bằng sông Cửu Long đang nằm trong mối nguy hiểm bị TQ đang khống chế về thượng nguồn về việc xây dựng các đập thuỷ điện .

    Để cạnh tranh với thế giới , đồng bằng sông Cửu Long nên chú trọng về nuôi trồng thuỷ sản hơn trồng trọt . Đời sống của nông dân lệ thuộc vào sưj bù lỗ của nhà nước về mặt giá cả . Do đó , vì lợi nhuận mà ép giá người nông dân thì đây là hành động bóc lột tệ hại nhất .

    Kết hợp được giữa du lịch và sinh thái nông nghiệp sẽ mang lợi giàu có và ổn định cho VN hơn là duy nhất phát triển nông nghiệp bằng hiện đại khoa học .

    Không đâu trên thế giới có ưu điểm hơn VN về vẻ đẹp thiên nhiên và thời tiết thuận lợi du lịch cho cả bốn mùa . Nhờ rặng Trường Sơn chạy sát biển , cỏ cây xanh tốt quanh năm , nghành du lịch VN có thể phát triển và cạnh tranh ăn đứt cả thế giới kể cả Hawaii của Mỹ .

    Muốn thế , chúng ta cần sự hợp tác đầu tư của các tập đoàn đầu tư nghỉ dưỡng của thế giới về khách sạn và sòng bạc . Đồng thời phải nâng cao dân trí về kiến thức phục vụ , nhân phẩm và nhân cách cùng đạo đức của dân tộc , đây là việc làm khó khăn hơn kỷ thuật và tiền bạc .

    Muốn tìm được nguồn ngoại hối đổ dồn vào VN mạnh mẽ , đời sống nhân dân ổn định , đây là con đường hàng đầu cho tất cả mọi kế hoạc đầu tư , khi một đất nước tụt hậu hơn thế giới về khoa học , ngân hàng , công nghiệp gần cả một thế kỷ .

    Bốn mươi năm độc lập , với 20 năm lấy sức người để làm nên sỏi đá cũng thành cơm , tiếp theo 20 còn lại thì lu bu với những nền công nghiệp chẳng đủ sức bám đuôi thế giới . Chúng ta bỏ quên hoặc không biét cách phát triển hai khả năng trời ban cho VN đó là công nghệ thông tin và du lịch nghỉ dưỡng cờ bạc .

    Phải có một cái nhìn bao quát về thế giới hôm nay để thấy được nguồn tiền của nhân loại đang chảy về đâu , mình hãy làm chiếc phếu để hứng . Đừng tự ái , đạo đức ba xu , khi một đất nước tụt hậu 100 năm so với một cường quốc , đang phải thế ngoi đầu để tiến lên trước một áp lực chung cố dìm mình xuống .

    Trả lờiXóa
  2. Du lịch nghỉ dưỡng thì Ok. Nhưng cờ bạc thì KHÔNG ! Chúng ta cần tiền, nhưng đừng để đến lúc tay nắm một đống tiền mà chẳng có hạnh phúc. Xã hội Cờ bạc là xã hội bẩn thỉu- đứa ngu nhất cũng biết.

    Trả lờiXóa